Chương 1: Bối cảnh lịch sử và điều kiện thực hiện công tác thủy nông ở tỉnh Vĩnh Yên Chương 2: Công tác thủy nông ở Vĩnh Yên từ năm 1890 tới năm 1945 Chương 3: Nhận xét về công tác thủy nông tại tỉnh Vĩnh Yên thời Pháp thuộc II NỘI DUNG CHUONG 1: BOI CANH LICH SU VA DIEU KIEN THUC HIỆN CONG TÁC THUY NONG O TINH VĨNH YEN 1. Thực dan Pháp xâm lược Việt Nam và sự ra đời của tinh Vinh Yên 1. Khái quát quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, phong trào tìm tới các vùng đất mới hay còn được gọi là phát kiến địa lý nỗ ra mạnh mẽ tại nhiều nước châu Âu, trước hết là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Mục tiêu của các cuộc phát kiến địa lý không năm ngoài hai vấn đề “hạt tiêu và truyền giáo”, tức là nguồn nguyên liệu và truyền bá giáo lý của đạo Kitô, hiểu rộng hơn là vấn đề kinh tế và tôn giáo.
Điều đó đặt ra yêu cầu cho những nước này cần sớm tìm được các tuyến hải thương mới nhăm đáp ứng nhu cau bản quốc, đích đến của họ là phương Đông, nơi được mệnh danh là vùng đất của vàng bạc, hương liệu và nhiều loại xa xỉ phẩm khác. Mối liên hệ giữa thị trường châu Á và thị trường châu Âu được hình thành từ rất sớm. Các bang chứng khảo cô học chỉ ra rang, từ thé ky VII đã diễn ra các tuyến buôn bán liên vùng, xuyên vùng, liên lục địa với sự xuất hiện của các tuyến hải thương trải rộng từ sườn Đông châu Phi qua Ấn Độ Dương, tới bờ Tây Thái Bình Dương, nối vịnh Ba Tư, Hồng Hải, An Độ, Malacca, Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Trong mạng lưới hải thương quốc tế đó, Việt Nam với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, cũng như các sản phẩm thủ công tinh xảo, luôn giữ vai trò chiến lược, là một điểm đến lý tưởng cho các thương nhân phương Tây trong công cuộc khám phá những vùng đất mới.
Các cuộc phát kiến địa lý ban đầu chỉ là những đoàn thuyền chuyên chở hàng hóa do các thương nhân, nhà hàng hải khởi xướng và được sự chấp thuận của các vua châu Âu. Những chuyến hành trình này mang trên mình nhiệm vụ tìm kiếm vàng bạc, các mặt hàng xa xỉ phẩm của phương Đông vốn rất được ưa chuộng ở châu Âu, đồng thời, trên những con tàu này cũng thường chở theo các tu sĩ của 12 đạo Kitô nhằm truyền giảng giáo lý tới các vùng đất chưa được khai sáng bởi Kinh Thánh. Dần dan, các chuyến hải trình đó được đặt dưới quyền kiểm soát của các Công ty Đông Ẩn!. Không nam ngoài xu hướng trên, nước Pháp cũng có những hành động nhằm tìm kiếm và thiết lập sự ảnh hưởng của mình lên các vùng đất mới.
Năm 1663, Hội Thừa sai Paris (La Société des Missions Etrangéres de Paris - MEP) được thành lập với nhiệm vụ dao tao các nhà truyền giáo tương lai. Tiếp đó, năm 1864, vua Louis XIV cho mở Công ty Đông An Pháp (La Compagnie Francais des Indes Orientales - CIO), hoạt động tại các khu vực cua châu Á, chủ yếu là An Độ. Mục tiêu của người Pháp trong nỗ lực mở rộng quyền kiêm soát lên những vùng đất mới, trước tiên là phương Đông nhằm tập trung vào hai vấn đề: mở rộng thương mại và “đem vinh quang về cho nước Pháp” qua truyền giáo [12; tr. Trong đó, MEP và CIO là hai công cụ quan trọng nhất dé Pháp đạt được mục đích.
Nửa đầu thế kỷ XVI, một số đoàn thuyền phương Tây bắt đầu tiến tới Việt Nam. Trước tiên là những thương thuyền của Tây Ban Nha, Bồ Dao Nha, Hà Lan tìm cách tiếp cận với chính quyền Đàng Trong và chính quyền Đàng Ngoài nhằm đạt được những mục đích kinh té và tôn giáo. Trước tình hình đó, với mục tiêu khẳng định vị thế đất nước và nâng cao sức cạnh tranh với các quốc gia châu Âu, người Pháp cũng thiết lập những kế hoạch hướng tới phương Đông, trong đó có Việt Nam. Mặc dù chính quyền Pháp đã có những động thái tiếp cận Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII nhưng họ chỉ thực sự đặt mối quan tâm tới Việt Nam khi bị Anh gạt khỏi thị trường Ấn Độ rộng lớn, đặc biệt, năm 1843 chính khách người Pháp Francois Pierre Guillaume Guizot cho rằng: “Nước Pháp phải có hai cái đảm bao ở Viễn Đông là vùng biển Trung Hoa và Việt Nam” [34; tr.
Có thê nói, ngay từ đầu Việt Nam vẫn luôn là mục tiêu dé Pháp bành trướng, xâm chiếm thị trường hơn là mục đích tôn giáo, khai hóa văn minh như họ vẫn luôn rao giảng. Tuy nhiên, công cuộc chinh phục Việt Nam của Pháp chỉ thực sự bắt đầu vào nửa cuối thế kỷ XIX. ! Công ty Đông An là tên của một số công ty tại châu Âu đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền sở tại. Theo đó, các Công ty Đông Ấn được trao quyên buôn bán độc quyền.
với khu vực châu Á. Những Công ty Đông Án tiêu biểu trong lịch sử là: Công ty Đông Ấn Anh, Công ty Đông Ấn Hà Lan v. 13 Thế kỷ XIX, Việt Nam đã trở thành một quốc gia thống nhất về cương vực, thị trường, kinh tế v. sau hơn 200 năm dat nước bị chia cắt bởi cục diện Nam - Bắc phân tranh.
Trong thời kỳ này, Việt Nam nam dưới sự kiểm soát của triều đình nhà Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Có thé nói, thời gian trị vì của các vua nhà Nguyễn là giai đoạn đánh dấu nhiều mốc thăng trằm trong lịch sử Việt Nam. Nhìn chung, bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời Nguyễn là đa dạng, phức tạp, đôi khi như tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và bao thủ, lạc hậu, giữa cái mạnh và cái yếu. Thời Gia Long, mối quan hệ giữa người Pháp và triều đình nhà Nguyễn còn khá tốt đẹp.
Tuy nhiên, dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, mối quan hệ đó ngay càng lỏng lẻo do các vi vua này tỏ thái độ nghi ki với người Pháp va thi hành những chính sách “đóng cửa”, hạn chế thiết lập quan hệ ngoại giao trên tất cả các lĩnh vực với phương Tây. Đồng thời cũng do phía Pháp ngày càng bộc lộ rõ tham vọng ở Việt Nam, các giáo sĩ phương Tây thé hiện sự ủng hộ các thé lực chống đối triều đình như Lê Văn Khôi, Hồng Bảo v. Ngày 16/9/1856, tàu chiến Catinat đưa phái viên Pháp cầm quốc thư tới cửa biên Da Nẵng nhưng triều đình Huế lo ngại không chịu tiếp đón. Sự kiện này được Napoléon III cho răng là hành động “làm nhục quốc kỳ Pháp” và lay làm cớ dé quyết định can thiệp vào Việt Nam bằng vũ trang vào tháng 7/1857.
Bên cạnh đó, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bộ phận dư luận Công giáo Pháp ở Việt Nam, họ còn lay cớ “bênh vực đạo”, “truyền bá văn minh Công giáo”. Tuy nhiên, những hành động xâm lược của thực dân Pháp tại Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu vào tháng 8/1858. Theo đó, ngày 31/8/1858, lực lượng quân sự Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy phối hợp với lực lượng quân Tây Ban Nha đóng ở Philipines tiễn tới trước cửa biển Da Nang. Trước đó, theo thỏa thuận Pháp - Tây Ban Nha, ngày 25/12/1857, Bộ trưởng Chiến tranh Tây Ban Nha ra lệnh cho tư lệnh trưởng ở Philipines “chuẩn bị sẵn sàng dé khi nào vị Đô đốc Pháp Rigault de Genouilly yêu cầu thì cho xuống tàu một tiểu đoàn quân bộ 1.000 người, cùng với hai đội ky binh, mỗi đại đội 150 người và một trung đội pháo binh 100 người” [49; tr.
Sở di Da Nẵng được chon làm địa điểm tan công đầu tiên là bởi nơi đây có 14 một vi trí quân sự quan trọng với hải cảng sâu và rộng, thuận tiện cho tàu chiến hoạt động. Đồng thời, Đà Nẵng chỉ cách Huế 100 km về phía Nam, nếu chiếm được Đà Nẵng, điều đó có nghĩa là liên quân Pháp - Tây Ban Nha tạo ra sự uy hiếp lớn đối với triều đình Huế. Rạng sáng ngày 1/9/1858, cuộc xâm chiếm Việt Nam của Pháp đã chính thức bắt đầu. Ý định ban sơ của người Pháp trong công cuộc thiết lập quyền kiểm soát ở Việt Nam là nhanh chóng chiếm được Da Nẵng dé có thé dé dàng mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra toàn Việt Nam.
Tuy nhiên, do không đạt được mục tiêu đó nên Rigault de Genouilly quyết định chuyển hướng tan công trước hết vào Nam Kỳ. Sau một thời gian dài với nhiều hoạt động quân sự được triển khai, ngày 25/8/1883, Hiệp ước Harmand (còn được gọi là Hiệp ước Quý Mùi) được ký kết tại Sứ quán Pháp ở kinh thành Huế giữa đại diện Pháp Francois Jules Harmand với đại diện Việt Nam là Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp. Theo đó, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, đất nước Việt Nam là thuộc địa của Pháp, toàn bộ quyền lực chính trỊ, quân sự, ngoại giao (bao gồm cả mối quan hệ với nhà Thanh) sẽ do người Pháp kiểm soát. Địa giới hành chính Việt Nam cũng thay đổi theo hướng có lợi cho thực dân Pháp v.
Ngày 6/6/1884, Hòa ước Patenôtre (còn được gọi là Hòa ước Giáp Thân) được ký kết nhằm hoàn thiện những điều khoản của Hiệp ước Harmand. Tham gia ký kết bản hiệp ước này có đại diện nhà Nguyễn là các đại thần Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan, Nguyễn Văn Tường và đại diện Pháp là Sứ than Jules Patenôtre des Noyers. Ngay từ điều 1 của hòa ước đã nêu rõ Việt Nam thừa nhận và chấp thuận nên bảo hộ của Pháp. “Những biểu hiện quyền lực còn lại của chế độ phong kiến Việt Nam độc lập, ké cả ấn vàng nặng 5.9 kg của Nguyễn Anh đúc từ khi khai lập nhà Nguyễn năm 1802 cũng bị nau chảy ra trước khi chứng kiến của các quan chức cao cấp thực dân” [34; tr.
Như vậy, với bản Hiệp ước Harmand và Hiệp ước Patenôtre, Việt Nam đã mất đi quyên độc lập quốc gia. Quá trình hình thành tinh Vinh Yên Công cuộc xác lập địa giới hành chính tỉnh Vĩnh Yên là một quá trình lâu dài. Đó là sự chia định, sáp nhập các đơn vị hành chính diễn ra liên tục trong suốt 15 mấy mươi thé ky dé hình thành nên tinh Vĩnh Yên vào giai đoạn cuối thé ky XIX, đầu thế kỷ XX. Thời đại Hùng Vương, vùng đất sau này là tỉnh Vĩnh Yên trực thuộc quận Giao Chỉ.
Bước sang thời kỳ quân chủ Việt Nam, chính quyền trung ương các thời kỳ liên tục thay đổi địa giới hành chính và tên gọi các đơn vị.