MỞ ĐẦU Hiện nay cao huyết áp được biết là một trong những chứng bệnh nguy hiểm làm ảnh hưởng đến một phần tư dân số toàn cầu. Nó là tác nhân chính gây nên các bệnh về tim mạch và cũng là nguyên nhân của nhiều trường hợp tử vong tại các nước phương tây. Theo con số thống kê trên thế giới hiện nay có hơn một tỷ người mắc bệnh cao huyết áp (chiếm khoảng 15%), ở Việt Nam con số này là 16% [2]. Khi bị cao huyết áp, bệnh nhân sẽ thường dẫn đến nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não thường gây tử vong.
Bệnh được chữa trị bằng nhiều phương pháp và loại thuốc đặc hiệu cho cơ chế gây cao huyết áp. Phương pháp phổ biến hiện nay là dùng thuốc ức chế enzym chuyển hóa angiotensin (ACEI) như Captopril, Enalapril…Tuy nhiên thuốc đã biểu hiện nhiều tác dụng phụ khi bệnh nhân sử dụng thuốc, như gây hạ huyết áp, chóng mặt, choáng váng. Ngoài ra còn một số tác dụng phụ khác như nổi mề đay, tăng nồng độ Kali huyết thanh, giảm chức năng của thận ở những bệnh nhân bị suy tim, hạ Natri huyết hoặc tình trạng giảm thể tích. Phù mạch hiếm khi xảy ra nhưng hay gặp hơn ở bệnh nhân da đen sử dụng ACEI.
Các chất ức chế ACE có thể gây ho khan do thuốc có khả năng ảnh hưởng đến tổng hợp prostaglandin ở phổi, bệnh thường xuất hiện trong 10 - 30% số bệnh nhân điều trị), gây quái thai (khi mang thai sử dụng ACEI), viêm da…, [60; 73]. Do những tác dụng phụ như vậy, nên thuốc có chứa peptit ức chế enzym chuyển hóa angiotensin được tổng hợp bằng nguồn tự nhiên đã rất được quan tâm, nghiên cứu. Và nhóm sản phẩm này đã được công nhận là không thể thiếu trong điều trị bệnh cao huyết áp và được xếp hàng đầu trong điều trị suy tim ứ đọng mãn tính. Có thể dùng nhiều năm mà không gây tác dụng phụ.
Theo thống kê của [61] thì hiện nay đã có rât nhiều sản phẩm có chứa peptit ức chế ACE được sử dụng hàng ngày như một loại thực phẩm LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 14 C«ng nghÖ sinh häc chức năng, đồ uống (sữa Calpis), những người bình thường có thể sử dụng các loại thực phẩm này mà không hề có một ảnh hưởng nào [23, 56]. Tại Việt Nam số người bị bệnh cao huyết áp và tim mạch ngày càng gia tăng. Hiện nay đã có một số nghiên cứu về việc sử dụng những nguồn tự nhiên để tạo peptit có khả năng ức chế ACE (ACEIP) [2, 59], Những nghiên cứu này đã mang lại kết quả rất khả quan trong việc tạo ACEIP để sử dụng cho những bệnh nhân bị cao huyết áp. Do tính cấp bách trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ thu nhận peptit có khả năng kìm hãm enzym chuyển hóa angiotensin từ vi sinh vật lên men truyền thống với cơ chất là protein đậu tương”.
Mục tiêu của đề tài: • Tìm được chủng giống vi sinh vật có khả năng tạo ACEIP cao nhất. • Lựa chọn điều kiện lên men thích hợp nhất để thu nhận ACEIP nhiều nhất. Từ đó tiến hành tinh sạch và tạo ra chế phẩm chứa peptit kìm hãm ACE dùng điều trị bệnh cao huyết áp. Nội dung đề tài: 1.
Phân lập, định tên các chủng lactic từ dưa chua có khả năng kìm hãm enzym chuyển hóa angiotensin và đem so sánh hoạt tính ức chế ACE với các chủng lactic hiện có. So sánh khả năng kìm hãm ACE của chủng lactic lựa chọn có hoạt lực kìm hãm ACE cao nhất với các loại Bacillus subtilis. Lựa chọn điều kiện nuôi cấy thích hợp nhất để chủng giống lựa chọn có khả năng kìm hãm ACE cao nhất bằng 2 phương pháp: cổ điển và quy hoạch thực nghiệm. Tinh sạch ACEIP, Sau đó tạo ra chế phẩm có chứa ACEIP và đem xác định đặc tính của chế phẩm tạo được.
LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 15 C«ng nghÖ sinh häc Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Enzym chuyển hóa enzym angiotensin (ACE) 2. Giới thiệu về enzym chuyển Angiotensin (ACE) trong cơ thể người Cao huyết áp hiện nay là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong khá cao, nhất là những người lớn tuổi. Lý do của sự gia tăng huyết áp này là do hoạt động của ACE trong hệ thống Renin-Angiotensin-Aldosterol (RAAS) và hệ thống Kalikrein- kinin.
* Hoạt động của ACE trong hệ thống Renin-Angiotensin-Aldosterol (RAAS) Hệ thống này được hoạt hóa khi áp suất máu giảm, thận của chúng ta sẽ tiết ra renin là một enzym protease. Enzym này sẽ xúc tác chuyển hóa angiotensinogen có trong gan thành angiotensin I. Lúc này tại bề mặt của phổi và màng trong của thận sẽ tiết ra enzym ACE có tác dụng chuyển hóa Angiotensin I thành Angiotensin II sẽ kích thích hệ thần kinh trung ương, đồng thời nó còn tiết ra một loại hormon là aldosteron từ vỏ thượng thận. Aldosteron có vai trò giữ natri, tiết kali và làm tăng quá trình giữ nước.
Sự gia tăng này làm cho thể tích chất lỏng trong cơ thể tăng lên gia tăng áp suất máu gây cao huyết áp, [72].1 Hệ thống renin-angiotensin-aldosterol, [72]. LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 16 C«ng nghÖ sinh häc * Hoạt động của ACE trong hệ thống kallikrein- kinin. Khi áp suất máu trong cơ thể tăng lên hệ thống này sẽ được hoạt hóa. Lúc này trong cơ thể sẽ tiết ra enzym kallikrein làm cho kininogen có chủ yếu trong gan bị thủy phân tạo ra bradykinin là chất có khả năng gây giãn mạch mạnh do nó giải phóng NO dẫn đến làm hạ huyết áp.
Khi đó dưới tác dụng của ACE sẽ làm bất hoạt bradykinin áp suất máu tăng lên gây cao huyết áp, [72].2: ACE xúc tác tạo thành Angiotensin II hoạt động từ Angiotensin I, đồng thời làm vô hoạt bradykinin, [72]. Cấu trúc hóa học của ACE trong cơ thể người Trong cơ thể người ACE tồn tại ở 2 dạng chủ yếu là ACE soma và ACE sinh dục, cả 2 dạng này đều được mã hóa bởi cùng một vùng gen trên nhiễm sắc thể 17 tại q23; Chứa 26 exon và 25 intron. Đoạn dài hơn là ACE soma với 1302 amino axit, được phiên mã từ exon 1-12 và 14-26. Đoạn ngắn hơn là ACE sinh dục có kích thước là 732 amino axit và được phiên LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 17 C«ng nghÖ sinh häc mã từ exon 13-26.
Promoter của ACE soma nằm trong vùng 5’ của exon đầu tiên, còn ACE sinh dục nằm bên trong vùng intron 12 [75]. ACE soma được tìm thấy trên bề mặt trong của phổi, thận, ruột, nhau thai, đám rối của tràng mạch. Nó được cộng hợp bởi 2 vùng là vùng N và vùng C. Mỗi vùng đều có một kiểu gắn kẽm đặc thù, có tâm hoạt động là His-Glu-X-X-His.
Trong đó, hai histidin sẽ cung cấp 2 trong số 3 ligand kết hợp kẽm và nhóm cacboxyl của glutamat là một nguồn cho điện tử cho phản ứng xúc tác [75]. ACE sinh dục chỉ có duy nhất trong bộ phận sinh dục, nó tương ứng với vùng C của ACE soma, có một tâm hoạt động và chỉ có một kiểu gắn kẽm, [55]. Gần đây đã có nhiều bằng chứng cho thấy rằng ACE trong huyết tương của người và tại màng trong là một metalloprotease với sự kết hợp chính trong mức độ phân hủy protein Bradykinin và làm bất hoạt peptit angiotensin I [75].3: Cấu trúc và hình dáng của ACE từ huyết tương, tế bào soma và tế bào sinh dục, biễu diễn trung tâm hoạt động, vị trí gắn kẽm, các vùng N và C [60]. LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 18 C«ng nghÖ sinh häc 2.
Đặc tính enzym của ACE Đặc tính enzym của ACE là nó hoạt động với tư cách là dipeptyl cacboxypeptidase có khả năng giải phóng dipeptit đầu C từ các cơ chất có một nhóm cacboxyl tự do cuối cùng. ACE ưu tiên phân cắt những cơ chất có các amino axit kị nước tại vị trí thứ 3 từ dưới lên và có ít ái lực với những cơ chất có các amino axit dicacboxylic đầu C (Glu, Asp) hoặc với prolin ở vị trí cuối cùng [16]. Theo cơ chế này, nó sẽ xúc tác việc phân cắt angiotensin I thành peptit gây co mạch angiotensin II và làm bất hoạt các peptit gây giãn mạch như Bradykinin và kallidin. Mức độ thủy phân angiotensin I và Bradykinin của 2 vùng N và C là khác nhau, vùng C đòi hỏi nồng độ ion clo cao hơn để hoạt động tối ưu, đặc tính này được tạo nên do arginin có trong vùng.
Tại 2 vùng, ái lực liên kết với một vài chất ức chế ACE là khác nhau, ví dụ với enalapril thích hợp liên kết tại vùng C, trong khi ramipril lại bị cản trở ở cả 2 vùng. Peptit ức chế enzym chuyển angiotensin (ACEIP) Hiện nay bệnh cao huyết áp được biết là một trong những chứng bệnh nguy hiểm, làm ảnh hưởng đến một phần tư dân số trên toàn cầu. Khi bị cao huyết áp sẽ dẫn đến nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và gây tử vong. Các nhà khoa học đã xác định rằng sự hoạt động của enzym ACE là nguyên nhân chính gây cao huyết áp.
Vì vậy, một hướng mới trong nghiên cứu là tìm ra loại thuốc mà có khả năng kìm hãm enzym này và các peptit kìm hãm ACE đã được nghiên cứu. Chúng có thể làm giảm tử vong và giảm nguy cơ vào viện do suy tim. Những xu hướng thuận lợi như nhồi máu cơ tim, đột tử hoặc tử vong do loạn nhịp tim, đột quỵ và tắc nghẽn mạch máu. Ngoài ra những chất ức chế ACE còn làm giảm quá trình phát bệnh của những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường hoặc hen suyễn [73].
LuËn v¨n th¹c sü khoa häc 2006 - 2008 NguyÔn ThÞ Ph¬ng Th¶o 19 C«ng nghÖ sinh häc 2. Lịch sử nghiên cứu ACEIP Lịch sử của peptit ức chế enzym chuyển angiotensin (ACEIP) bắt đầu nǎm 1954, khi tầm quan trọng của enzym ACE được thừa nhận lần đầu. Nǎm 1968, hợp chất đầu tiên có khả nǎng ức chế chuyển angiotensin I thành angiotensin II được tách chiết từ nọc rắn. Nǎm 1980, Captopril trở thành chất ức chế enzym chuyển angiotensin đầu tiên được phép sử dụng trên lâm sàng.
Từ khi Captopril, một dẫn xuất của prolin được tổng hợp và xác định có hoạt tính chống cao huyết áp thì có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để tạo ra những chất ức chế ACE bằng con đường hóa học như Enalapril, Benazepril, Lisinopril…Hiện nay có ít nhất 40 chất ức chế ACE được tổng hợp hóa học.