Chương 1: Công nghệ phát triển ứng dụng trên thiết bị di động Chương 2: Kiến trúc và giải pháp trên nền công nghệ SIM Toolkit Chương 3: Xây dựng hệ thống thanh toán điện tử và tra cứu thông tin tài khoản qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 9 z Chƣơng 1 - CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG 1.1 Tổng quan về thị trường di động 1.1 Sự tăng trưởng thuê bao di động trên thế giới Trong những năm trở lại đây, thị trường các thiết bị di động đầu cuối phát triển rất mạnh mẽ, đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong lĩnh vực thông tin di động và truyền thông. Hiện nay, có thể liệt kê ra có rất nhiều hãng cung cấp các thiết bị di động đầu cuối nổi tiếng như điện thoại di động Nokia, Motorola, Samsung, Alcatel, Fujitsu, Mitsubishi, Siemens, Sony Ericssion và các hãng máy tính cầm tay như: Palm, Pocket PC. Theo thống kê [3] của AJUG (Australia Java User Group Inc), thị trường điện thoại di động đã tăng trưởng rất mạnh trong năm 2005. Số liệu thống kê cho thấy, số điện thoại di động bán được trên toàn cầu là 1.
Dự đoán số lượng bán ra trong trong năm 2006 sẽ là 2. Millions of Units 2500 2000 1500 1000 500 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Hình 1. Biểu đồ về tốc độ tăng trưởng thuê bao di động Ngoài ra, số thuê bao đầu cuối di động đặc biệt tăng mạnh tại thị trường Châu Á, tiếp theo là thị trường Châu Mỹ. Trong khi đó, thị trường Tây Âu vẫn có dấu hiệu bão hoà.
Biểu đồ trên chính là dự báo về tốc độ tăng số thuê bao từ năm 2001 tới năm 2006. Theo nghiên cứu [3], Nokia vẫn luôn là nhà cung cấp các thiết bị đầu cuối di động lớn nhất thế giới với trên 1/3 thị phần toàn cầu như thể hiện bởi biểu đồ dưới, Motorola theo sau với 14,8% thị trường tiêu thụ, còn Ericsson ít hơn với 8% 10 z Hình 2. Chia sẻ thị trường di động trên thế giới Sản phẩm của các hãng, các nhà cung cấp thiết bị rất phong phú, đa dạng, nhiều chủng loại tính năng khác nhau nhưng có thể phân ra làm hai loại chính là: Điện thoại di động: Nokia, Motorola, Samsung, Siemens, v.v… Máy tính cầm tay: Palm, Pocket PC, v.v… Xu hướng phát triển của các loại thiết bị cầm tay là tăng các tính năng của thiết bị, để các thiết bị có khả năng hoạt động như một máy tính, ngoài các tính năng truyền thống còn có các tính năng mới như: truy cập Internet, khả năng nạp và chạy các ứng dụng mang tính thương mại như: tìm kiếm thông tin, thương mại điện tử. Mục tiêu chính của các nhà quản lý và khai thác mạng di động (Network Operator) là tăng số lượng thuê bao.
Điều này chỉ có thể nhận được bằng sự kết hợp các chiến lược như: Tăng độ tin cậy và trung thành của khách hàng. Tăng lưu lượng sử dụng thông qua các dịch vụ giá trị gia tăng hấp dẫn trên mạng lưới. Tạo sự khác biệt qua hệ thống chăm sóc khách hàng và cách thức cung cấp dịch vụ. Xây dựng các dịch vụ giá trị gia tăng tương thích, độc lập với thiết bị di động của khác hàng.
Trong những năm gần đây, công nghệ dẫn đầu để cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng trong mạng GSM và đáp ứng được các điều kiện cần thiết trên là công nghệ SIM Toolkit. Công nghệ này đã được chuẩn hoá quốc tế trong GSM 11. Việc áp dụng công nghệ SIM Toolkit cho phép các nhà quản trị mạng di động có thể cung cấp cho các thuê bao của mình một loạt các ứng dụng đa dạng, phong phú và mềm dẻo. 11 z Vào năm 1999, có khoảng 20% nhà quản trị mạng di động (Network Operator) GSM sử dụng công nghệ SIM Toolkit sử dụng nền này để phân phối các dịch vụ giá trị gia tăng của họ, và vào cuối năm 2000 con số này đã là 50%.
Theo thống kê của tổ chức SIMAlliance vào cuối năm 2005, xấp xỉ 90% tất cả các Handset GSM đã tương thích với chuẩn phase 2+. Đây chính là cơ hội rất lớn cho phép phát triển các dịch vụ dựa trên công nghệ này.2 Bùng nổ mạng di động tại Việt Nam Thị trường thông tin di động trong nước trong thời gian gần đây đang rất sôi động. Ngoài hai nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động truyền thống là GPC và VMS sử dụng công nghệ GMS, mới đây Viettel cũng đã chính thức tham gia và chia sẻ thị trường này với số lượng thuê bao lên đến 2 triệu chỉ trong vòng hơn một năm. Ngoài ra, Công ty Cổ phần Viễn thông Sài Gòn - SPT cũng đã đưa vào khai thác hệ thống điện thoại di động theo công nghệ CDMA từ năm 2003, có tính bảo mật cao và nhiều triển vọng, làm cho thị trường thông tin di động nhộn nhịp hẳn lên.
Dự báo sẽ có một cuộc cạnh tranh vô cùng sôi động giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong thời gian tới. Trong năm nay, EVN Telecom và HaNoi Telecom cũng chính thức khai trương. Theo số liệu của Viện Chiến lược Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin vào cuối năm 2005, bốn doanh nghiệp viễn thông di động đang chia sẻ thị phần tại Việt Nam thì VinaPhone chiếm 48,72%, tiếp đó là MobiFone (35,63%), Viettel (11,41%) và SFone (4,24%). Viettel đã đạt được 2 triệu thuê bao di động tính đến thời điểm hết năm.
Tỷ lệ phân chia thị phần mạng di động Việt Nam năm 2005 Năm 2005, theo số liệu điều tra của tạp chí e-Chip, trên 50% số người đang dùng điện thoại di động cho biết sẽ lựa chọn mạng MobiFone, trên 28% chọn VinaPhone và chỉ 4% chọn S-Fone. Đối với những người hiện chưa dùng điện thoại di động, trên 43% lựa chọn MobiFone, gần 28% lựa chọn VinaPhone, 25% lựa chọn Viettel và 2% lựa chọn S-Fone.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ của các thuê bao di động Để áp dụng khi triển khai ứng dụng vào thị trường Việt Nam cần chú ý đến yếu tố nhu cầu của khách hàng. Điều đó sẽ quyết định đến hướng áp dụng cũng như qui mô phạm vi của ứng dụng. Thị trường viễn thông Việt Nam còn khá non trẻ trong lĩnh vực không dây.
Hiện nay, có hai loại dịch vụ đang được chú trọng là dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ thương mại điện tử trên mạng di động.1 Dịch vụ giá trị gia tăng Các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng di động đang được phát triển mạnh như các dịch vụ cho phép người sử dụng điện thoại di động tải các ứng dụng như Ringtones, Logo, hoặc các dịch vụ tra cứu thông tin như thông tin ngân hàng, thời tiết, chương trình vô tuyến. Đặc điểm của loại hình dịch vụ này hoạt động theo mô hình Client/Server. Các dịch vụ này có thể được cập nhật trên Server của nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, xu hướng sắp tới là thay thế các loại hình dịch vụ tra cứu truyền thống (tra cứu qua nhắn tin SMS) bằng việc xây dựng một ứng dụng trong SIM.
Ứng dụng này đưa ra dưới dạng thực đơn thân thiện với người sử dụng. Nhờ đó, nó khắc phục được một số hạn chế như người dùng không phải nhớ cấu trúc lệnh và từ khoá. Hơn nữa, việc kiểm tra lỗi dịch vụ có thể được đưa ra ngay khi người sử dụng nhập thông tin từ thiết bị di động.2 Dịch vụ thương mại điện tử Các dịch vụ thương mại điện tử qua thiết bị di động hiện nay gặp một khó khăn lớn như sự hạn chế về vấn đề bảo mật. Với thế mạnh của mình, ứng dụng SIM Toolkit đã khắc phục được hạn chế này.
Song song với công nghệ WAP, công nghệ SIM Toolkit được đánh giá là có tiềm năng lớn trong việc phát triển dịch vụ thương mại điện tử trên mạng di động.2 Tổng quan về các công nghệ phát triển dịch vụ cho thiết bị di động Cùng với sự phát triển của các loại thiết bị di động, các công nghệ áp dụng để tạo lập ứng dụng trên mạng di động phát triển rất nhanh chóng, Nhờ đó, đã tạo ra môi trường thuận lợi trong việc phát triển ứng dụng một cách đa dạng và phong phú. Tuy ra đời muộn so với hệ thống thông tin hữu tuyến nhưng tốc độ phát triển của hệ thống mạng thông tin di động cao hơn rất nhiều. Nguyên nhân là do hệ thống này phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại và nhu cầu của thị trường. Theo biểu đồ trên các thuê bao sử dụng công nghệ điện thoại tế bào tăng trưởng nhanh.
Công nghệ GSM được sử dụng chủ yếu ở Tây Âu, và Châu Á, phần lớn ở Trung Quốc. Công nghệ CDMA tiếp tục được áp dụng rộng rãi tại Mỹ và bắt đầu thâm nhập thị trường Châu Á với tốc độ khá nhanh. Hai chuẩn về thông tin di 13 z động tế bào khác là IS-136 TDMA và chuẩn PDC (Personal Digital Cellular) của Nhật không được phát triển mạnh trên thị trường và đang có dấu hiệu suy giảm. Ngày nay, nhiều hệ thống điện thoại tế bào trên thế giới từ thế hệ thứ hai đang chuyển dần sang điện thoại thế hệ thứ ba để có thể cung cấp các dịch vụ mới như: Wireless Video, Internet Web Browsing.
Ít nhất có hai chuẩn 3G được triển khai là: W-CDMA, chuẩn này được biết đến ở Châu Âu như hệ thống UMTS (Universal Mobile Telephone Service) và CDMA2000 là chuẩn được phát triển từ mạng CDMA-One [3]. Sau đây là một vài bộ công cụ, giao thức chính hiện đang phổ biến trên thế giới được áp dụng để xây dựng ứng dụng cho các các thiết bị di động đầu cuối.1 WAP (Wireless Application Protocol) WAP [7] ra đời từ năm 1997 với mục đích tích hợp dịch vụ World Wide Web trong điện thoại di động. Nokia, Motorola, Ericssons, Unwire Planet chính là các nhà cung cấp điện thoại di động đi đầu trong việc phát triển các phiên bản đầu tiên của WAP. WAP là một chuẩn hỗ trợ cho lập trình ứng dụng không dây.
Phần quan trọng nhất của WAP là WAP Gateway. Wap Gateway thực chất là một cổng giao tiếp giữa mạng Wireless và mạng Internet. Như đã biết, trước khi có Wap Gateway thì việc trao đổi thông tin giữa hai mạng này là rất khó khăn. Internet là một kho dữ liệu khổng lồ trong khi các ứng dụng không dây lúc đó chưa có cách nào để tiếp cận với kho dữ liệu ấy.
Wap Gateway ra đời nhằm giải quyết vấn đề đó. Như vậy, Wap Gateway là một cầu nối giữa mạng không dây và Internet. Thiết bị di động muốn truy nhập tới Internet cần quay số tới WAP Gateway.