Chương I: Biến đổi khí hậu và các công cụ tính toán khí nhà kính. Chương II: Các công cụ tính toán khí nhà kính, thâm định cân bằng carbon trong nông nghiệp và sử dụng đất. Chương III: Đề xuất công cụ tính toán khí nhà kính, thẩm định cân bang carbon trong nông nghiệp và sử dụng đất tại Việt Nam. CHUONG I: BIEN DOI KHÍ HẬU VA CÁC CÔNG CỤ TÍNH TOÁN KHÍ NHÀ KÍNH 1.
Biến đỗi khí hậu và ứng phó với BĐKH 1. Biến đối khí hậu Khí hậu là trạng thái trung bình theo thời gian (thường là 30 năm) của thời tiết (tô hợp các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ âm, tốc độ gid, mua,. Su bién déi của khí hau do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đối thành phan của khí quyền toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kì có thé so sánh được. Biến đổi khí hậu có bốn biểu hiện chính: Nhiệt độ tăng, nước biển dâng, lượng mưa thay đổi, các hiện tượng khí hậu cực đoan (bão lụt, han hán) gia tăng.
Trong 100 năm qua (1906 -2005 ), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng 0,74°C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Trong 10 năm qua (tính từ năm 2001), nhiệt độ trung bình cao hơn 0,5°C So VỚI giai đoạn 1961 — 1990. Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cau, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão. Nước biển dâng tại một vi trí nào đó có thé cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tổ khác.
Quan trắc mực nước biển cho thay mực nước biển trung bình tăng khoảng 20cm trong vòng 100 năm qua. Trong thập ky qua, mực nước biển dâng nhanh nhất ở vùng phía tây Thái Bình Dương và phía đông An Độ Dương. Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt độ của đại dương, tan chảy các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền. Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 - 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30°N, tuy nhiên lại có xu hướng giảm đáng kế từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới.
10 Lượng mưa ở khu vực từ 10°N đến 30°N tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời kỳ sau đó. Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng biến đổi theo mùa và theo không gian rõ rệt hon han so với nhiệt độ. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng lên trong thời gian gần đây; Các hiện tượng khí hậu cực đoan (bão lụt, hạn hán) gia tăng. Bão lụt: đi kèm với hiện tương băng tan và nước biển dâng cao thì hiện tượng bão lụt cũng tăng.
Theo số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, những cơn bão mạnh cấp 4 và cấp 5 đã tăng lên gấp đôi. Những vùng nước ấm đã làm tăng sức mạnh cho các cơn bão. Hạn hán: chính mức nhiệt cao trên đại dương và trong khí quyền đã đây tốc độ cơn bão đạt mức kinh hoàng. Khi một số nơi trên thế giới đang phải hứng chịu cảnh ngập lụt do mực nước biên dâng và bão lũ, thì ở nhiều nơi khác hạn hán lại đang hoành hành.
Các chuyên gia ước tính tình trạng hạn hán sẽ tăng ít nhất 66% do khí hậu ngày càng ấm hon. Han hán xảy ra thường xuyên sẽ thu hẹp nguồn cung cấp nước, làm giảm chất lượng các sản phâm nông nghiệp, khiến nguồn cung ứng lương thực trên toàn cầu trở nên bap bênh. Khí nhà kính và nguyên nhân gây biến déi khí hậu Khí nhà kính là các khí gây ra hiệu ứng nhà kính - là nguyên nhân dẫn đến BĐKH. Các KNK có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất.
Hiệu ứng nhà kính của các KNK được đặc trưng bởi “tiềm năng gây nóng lên toàn câu” (global warming potentials - GWPs) của một tan KNK với một tan CO: trong khoảng thời gian xác định (100 năm). Các KNK chủ yếu bao gồm: COa, CHa, N20, Os, hơi nước, các khí CFC. Có hai nhóm nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu: Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) và nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người). Nhóm nguyên nhân khách quan (do sự biến đổi của tự nhiên) bao gồm: sự biến đổi các hoạt động của mặt trời, sự thay đôi quỹ đạo trái đất, sự thay đổi vị trí 11 và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dạng hải lưu, và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyền.
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do tác động của con người) xuất phát từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước và sự gia tăng lượng phát thải khí CO và các KNK khác từ các hoạt động của con người như: CO phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyền. CO> cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép; CH¡ sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than; NO phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp; HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22; PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm; SFe sử dụng trong vật liệu cách điện va trong quá trình sản xuất magie. Nhu vậy, BDKH là hau quả của hiện tượng hiệu ứng nhà kính gây ra sự nóng lên của trái đất và các nguyên nhân khác. Sự gia tăng nồng độ khí CO» và khí nhà kính trong khí quyền sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của vấn đề BĐKH là do trái đất không thé hap thụ được hết lượng khí CO và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang dư thừa trong bầu khí quyền.
Ứng phó với biến doi khí hậu Khi BDKH là thách thức thực sự cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai, thì công tác ứng phó với BĐKH được đánh giá là hoạt động ưu tiên của bat kỳ địa phương, quốc gia, lãnh thé nào trên thế giới. Ứng phó với BDKH bao gồm hai mảng: thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH. (1) Thích ứng BĐKH: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hay con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm kha năng bị tổn thương do các tác động của BĐKH và tận dụng các cơ hội thuận lợi mà mỗi khí hậu mang lại. 12 (2) Giảm nhẹ BĐKH: là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải nhà kính và tăng bề hap thụ, bể chứa khí nhà kính.
Các quốc gia trên thế giới đã có những nỗ lực trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Về Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC): Công ước đã được 155 nước trong đó có Việt Nam ký kết tham gia tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất của LHQ tai Rio de Janeiro (1992). Mục tiêu của Công ước là nhăm đạt được sự ôn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyền ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức đó phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với biến đổi khí hậu, bảo dam rằng việc sản xuất lương thực không bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiễn triển một cách bền vững.
Đề đạt được mục tiêu này, Công ước đưa ra những biện pháp dựa trên nguyên tắc về tính công bằng; trách nhiệm chung nhưng có phân biệt; khả năng tương thích cùng các điều kiện kinh tế và xã hội của các nước phát triển và đang phát triển; nhu cầu về các biện pháp phòng ngừa; sự phát triển và một hệ thống kinh tế mở. Công ước có hiệu lực ngày 21/3/1994. Cho đến tháng 12 năm 2009 Công ước đã có 192 bên tham gia. Nghị định thư Kyoto (KP) nhằm tăng cường cơ sở pháp lý về trách nhiệm thực hiện UNFCCC.
Hội nghị các Bên lần thứ ba của UNFCCC tại Kyoto, Nhật Ban, tháng 12 năm 1997 đã thong qua Nghị định thư Kyoto. Thanh quả chính của Nghị định thu Kyoto là xác định những chỉ tiêu giảm phát thải của các nước công nghiệp và thành lập ba cơ chế linh hoạt dé các bên tham gia Nghị định thư có thể cùng nhau phối hợp thực hiện mục tiêu chung, đó là: Cơ chế cùng thực hiện (JI); Cơ chế phát triển sạch (CDM); Buôn bán phát thải quốc tế (IET). Hiệp định Paris được thông qua tại Hội nghị lần thứ 21 Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (COP21) diễn ra tại Paris (Pháp) vào tháng 12 năm 2015 đã quy định các biện pháp về bảo vệ khí hậu nham giữ mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cau trong phạm vi 1,5 - 2 độ C so với mức thời kỳ tiền công nghiệp. Hiệp định 13 đặt mục tiêu đến năm 2020, các nước phát triển sẽ huy động tối thiêu 100 tỷ USD mỗi năm dé giúp các nước đang phát trién chuyển đổi sang sử dụng những nguồn năng lượng sạch và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Văn kiện này có hiệu lực trong bối cảnh khí phát thải nhà kính được dự báo sẽ tăng lên từ 12 tỷ tấn đến 14 tỷ tấn vào năm 2030. Gần 200 quốc gia đã tham gia Hiệp định Paris và đã được 55 nước phê chuẩn, đại diện cho 55% tổng lượng khí thải toàn cầu, trong đó có Mỹ, Trung Quốc, Án Độ, Canada, Brazil và Liên minh châu Âu (EU). Hiệp định Paris về BĐKH có hiệu lực cho thấy các nước đã nhận thức rõ những hiểm họa mà BĐKH gây ra và với cam kết này, các quốc gia có thé hạn chế những nguy cơ từ biến đổi khí hậu và xây dựng một thế giới hòa bình và thịnh vuong. Tống quan về các công cụ tinh toán khí nhà kính 1.