Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức canh tác nương rẫy vùng cao truyền thống sang canh tác nông lâm kết hợp tại xã chiềng san huyện mường la tỉnh sơn la

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức canh tác nương rẫy vùng cao truyền thống, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thực sự khoa học

2007

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tình hình nghiên cứu CTNR và NLKH trên thế giới

2.1.1. Canh tác nương rẫy

2.1.2. Nông lâm kết hợp

2.1.2.1. Mô hình SALT 1 (Slopping Agricultural Land Technology)
2.1.2.2. Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Technology)
2.1.2.3. Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro-Forest Land Technology)
2.1.2.4. Mô hình SALT 4 (Small Agro-Fruit Livehood Technology)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chuyển Đổi Canh Tác Nương Rẫy Chiềng San

Vùng trung du miền núi Việt Nam, nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đang đối mặt với thách thức từ phương thức canh tác nương rẫy truyền thống. Tại xã Chiềng San, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, tập quán này gây ra nhiều hệ lụy như suy thoái đất, mất rừng và ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Xã Chiềng San là một xã miền núi, nằm trong diện 135 cần được chính phủ hỗ trợ. Người dân địa phương chủ yếu là dân tộc Thái, H'Mông, họ thường sống tập trung thành các bản phân bố ở các chân núi và các dải núi cao và xa. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm kiếm cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi canh tác nương rẫy sang nông lâm kết hợp (NLKH), nhằm bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống và đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực. Việc chuyển đổi này không chỉ giúp ổn định cuộc sống của người dân mà còn góp phần bảo vệ rừng đầu nguồn Sông Đà, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

1.1. Thực Trạng Canh Tác Nương Rẫy Tại Chiềng San Sơn La

Thực trạng canh tác nương rẫy tại Chiềng San cho thấy năng suất thấp, không đủ cung cấp lương thực cho người dân. Mặc dù diện tích canh tác lớn, tình trạng thiếu đói vẫn diễn ra. Tập quán đốt nương làm rẫy là nguyên nhân chính gây ra các vụ cháy rừng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Theo nghiên cứu, diện tích đất đai được đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp, nên mặc dù diện tích canh tác lớn nhưng người dân vẫn không đủ lương thực cho cuộc sống hàng ngày, trong xã vẫn còn tình trạng người dân bị thiếu đói, chưa đủ lương thực phục vụ cho nhu cầu tối thiểu hàng ngày.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nông Lâm Kết Hợp Ở Chiềng San

Việc chuyển đổi sang nông lâm kết hợp Chiềng San mang lại nhiều lợi ích, bao gồm cải thiện độ phì của đất, tăng cường đa dạng sinh học và tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân. NLKH cũng giúp giảm thiểu xói mòn đất và bảo vệ nguồn nước. Xã Chiềng San lại nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà tỉnh Sơn La, do đó vai trò phòng hộ đầu nguồn vô cùng quan trọng. Việc bảo tồn và phát triển rừng để cung cấp ổn định nguồn nước, ngăn cản xói mòn bồi lấp lòng hồ, duy trì công suất và tuổi thọ công trình thuỷ điện ngày càng bức thiết.

II. Phân Tích Vấn Đề Tác Động Canh Tác Nương Rẫy Đến Môi Trường

Canh tác nương rẫy, mặc dù là một phần của văn hóa truyền thống, gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Việc đốt rừng làm nương rẫy dẫn đến mất rừng, suy giảm đa dạng sinh học và gia tăng lượng khí thải nhà kính. Đất đai bị xói mòn, thoái hóa, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất nông nghiệp trong tương lai. Theo nghiên cứu của Katherine (1991), tần số sử dụng đất có ảnh hưởng lớn tới độ phì đất. Amason và đồng tác giả (1982) đã nghiên cứu hai đám nương của Mianma, cả hai đều được trồng ngô, một đám làm rẫy trên 100 năm với chu kỳ bỏ hoá 5 - 15 năm, một đám đã không sử dụng trên 50 năm. Trên đám nương bỏ hoá 50 năm, năng suất cây trồng đã tăng lên gấp đôi.

2.1. Mất Rừng Và Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học Do Canh Tác

Việc mở rộng diện tích nương rẫy đồng nghĩa với việc chặt phá rừng, làm mất đi môi trường sống của nhiều loài động thực vật. Điều này dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái. Phá rừng để làm NR trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể lãng phí nếu nhận thức rừng chỉ có giá trị duy nhất là từ gỗ (Grinnell, 1977, Arca, 1987 [32]).

2.2. Xói Mòn Và Thoái Hóa Đất Từ Canh Tác Nương Rẫy Chiềng San

Đất đai sau khi bị đốt rừng trở nên dễ bị xói mòn bởi mưa lũ. Lớp đất màu bị rửa trôi, làm giảm độ phì nhiêu và khả năng giữ nước của đất. Điều này ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và khả năng phục hồi của rừng. Về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, DC không được nhiều nước coi trọng bởi DC được coi như là sự lãng phí về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá sảy ra nghiêm trọng.

III. Giải Pháp Mô Hình Nông Lâm Kết Hợp Bền Vững Cho Chiềng San

Nông lâm kết hợp (NLKH) là một giải pháp hiệu quả để thay thế canh tác nương rẫy truyền thống. NLKH kết hợp trồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và chăn nuôi trên cùng một diện tích đất, tạo ra một hệ sinh thái đa dạng và bền vững. Mô hình này giúp cải thiện độ phì của đất, bảo vệ môi trường và tăng thu nhập cho người dân. Theo thống kê của FAO tính đến năm 1990 đã có tới 117 quốc gia trên thế giới áp dụng phương thức NLKH. [34]

3.1. Lợi Ích Kinh Tế Của Nông Lâm Kết Hợp Tại Chiềng San

NLKH tạo ra nhiều nguồn thu nhập khác nhau cho người dân, từ cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp và sản phẩm chăn nuôi. Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất và tăng tính ổn định kinh tế. Trong thực tế canh tác NLKH đã có nhiều hệ thống mang lại hiệu quả cao [12], như: - Hệ thống Taungya (Taungya system): Hệ canh tác này được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa việc trồng cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp trong giai đoạn đầu của trồng rừng. Như vậy mục đích chính của hệ canh tác là trồng rừng, cây nông nghiệp chỉ là kết hợp trong một vài năm đầu.

3.2. Cải Thiện Môi Trường Với Nông Lâm Kết Hợp Chiềng San

NLKH giúp bảo vệ đất khỏi xói mòn, tăng cường khả năng giữ nước của đất và cải thiện độ phì nhiêu. Cây lâm nghiệp cung cấp bóng mát, giảm nhiệt độ đất và tạo môi trường sống cho nhiều loài động thực vật. Hai là bỏ hóa làm giàu sinh học nghĩa là tăng khả năng cải tạo đất của thảm thực vật hữu canh bằng các cây cải tạo đất.

3.3. Kỹ Thuật Nông Lâm Kết Hợp Phù Hợp Với Chiềng San

Các kỹ thuật NLKH như trồng xen, trồng theo đường đồng mức và sử dụng cây che phủ đất có thể được áp dụng để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ môi trường. Cần lựa chọn các loại cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của Chiềng San. - Trồng xen theo đường băng (alley cropping): Là một kỹ thuật canh tác NLKH trong đó có cây họ đậu cố định đạm mọc nhanh, được trồng thành hàng và theo đường đồng mức, giữa hai hàng cây này người ta canh tác cây nông nghiệp.

IV. Nghiên Cứu Ứng Dụng Đánh Giá Hiệu Quả Mô Hình Nông Lâm Kết Hợp

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của các mô hình NLKH khác nhau tại Chiềng San, dựa trên các tiêu chí như năng suất cây trồng, thu nhập của người dân và tác động đến môi trường. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng để lựa chọn và triển khai các mô hình NLKH phù hợp nhất. Một trong những thành công cần được đề cập tới đó là việc các nhà khoa học của Trung tâm phát triển nông thôn Bapstit Minđanao Philippiness tổng hợp, hoàn thiện và phát triển từ những năm 1970 đến nay (theo Nguyễn Xuân Quát, 1996 [17]) đó là MH kỹ thuật canh tác đất dốc SALT (Slopping Agricultural Land Technology).

4.1. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Tế Của NLKH

Hiệu quả kinh tế của NLKH được đánh giá dựa trên các chỉ số như tổng thu nhập, chi phí sản xuất và lợi nhuận. So sánh hiệu quả kinh tế của NLKH với canh tác nương rẫy truyền thống để thấy rõ lợi ích của việc chuyển đổi. + Mô hình SALT 1 (Slopping Agricultural Land Technology): Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc. Đây là mô hình SDĐ tổng hợp đơn giản dựa trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực. Với cơ cấu cây trồng được sử dụng để đảm bảo được sự ổn định và có hiệu quả nhất là 25% cây lâm nghiệp, 75% cây nông nghiệp (cây nông nghiệp hàng năm 50% và cây lâu năm 25%).

4.2. Đánh Giá Tác Động Môi Trường Của Nông Lâm Kết Hợp

Tác động môi trường của NLKH được đánh giá dựa trên các chỉ số như độ che phủ của rừng, mức độ xói mòn đất và đa dạng sinh học. So sánh tác động môi trường của NLKH với canh tác nương rẫy truyền thống để thấy rõ lợi ích của việc bảo vệ môi trường. + Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro-Forest Land Technology): Kỹ thuật canh tác Nông - Lâm kết hợp bền vững. Đây là mô hình SDĐ tổng hợp dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sản xuất lương thực, thực phẩm. Cơ cấu SDĐ thích hợp ở mô hình này là 40% diện tích dành cho nông nghiệp, 60% dành cho cây lâm nghiệp, MH này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực và vốn liếng cũng như sự hiểu biết.

V. Chính Sách Hỗ Trợ Chuyển Đổi Canh Tác Nương Rẫy Tại Chiềng San

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang NLKH, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ vốn, kỹ thuật, giống cây trồng và đào tạo cho người dân. Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng hệ thống canh tác này: Ở Malaysia kết hợp chăn nuôi Gà và Cừu dưới rừng Cao Su và cây họ dầu, đã tăng thêm nguồn thu nhập từ thịt, mỡ và tăng lượng phân bón cho đất, giảm công làm cỏ.

5.1. Vai Trò Của Chính Phủ Trong Hỗ Trợ Nông Lâm Kết Hợp

Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ NLKH. Các chính sách này cần được thiết kế phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương và nhu cầu của người dân. Ở Thái Lan để SDĐ hiệu quả, nhà nước đã có chủ trương phát triển theo mô hình NLKH, kết quả đã thành công trong các nông trường trồng Ngô, Dứa ở vùng Hang Khoai, tạo ra các khu rừng hỗn giao gồm nhiều tầng: Rừng + cỏ, rừng + cây họ đậu ở KhonKaen.

5.2. Hợp Tác Giữa Các Tổ Chức Và Cộng Đồng Trong NLKH

Sự hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương là yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công của các dự án NLKH. Các tổ chức này có thể cung cấp kiến thức, kỹ thuật và nguồn lực cần thiết để hỗ trợ người dân. MH trồng xen giữa các loài cây công nghiệp, lương thực và Tre nứa ở Ấn Độ theo hệ thống NLKH được bố trí rất khoa học và hết sức chặt chẽ có tính toán đến sự phát triển kinh tế, xã hội cụ thể nơi gây trồng.

VI. Kết Luận Hướng Đến Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Chiềng San

Chuyển đổi từ canh tác nương rẫy sang nông lâm kết hợp bền vững là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan. Tuy nhiên, đây là con đường duy nhất để bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống và đảm bảo phát triển bền vững cho Chiềng San. Trên sườn dốc của đỉnh KiLimajaco ở Tanzania, bộ tộc Chagga trồng xen kẽ cây hoa màu vào rừng nhiệt đới, họ làm theo cấu trúc của rừng tự nhiên, giữ lại các cây cao nhất và tạo ra nhiều tầng cây ăn quả khác nhau, ở tầng cao nhất họ trồng Chuối...

6.1. Tầm Nhìn Về Một Chiềng San Xanh Và Giàu Có

Với sự chuyển đổi sang NLKH, Chiềng San có thể trở thành một vùng đất xanh tươi, giàu có và thịnh vượng, nơi người dân sống hòa hợp với thiên nhiên và có một tương lai tươi sáng.

6.2. Tiếp Tục Nghiên Cứu Và Phát Triển Nông Lâm Kết Hợp

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các mô hình NLKH phù hợp với điều kiện cụ thể của Chiềng San và các vùng lân cận. Chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức để nhân rộng mô hình NLKH trên khắp cả nước.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức canh tác nương rẫy vùng cao truyền thống sang canh tác nông lâm kết hợp tại xã chiềng san huyện mường la tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vùng trung du miền núi nước ta chiếm khoảng 3/4 diện tích toàn quốc, nơi tập trung các đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trên diện tích đồi núi đó, đồng bào các dân tộc thực hiện phương thức sản xuất du canh, phát nương làm rẫy với những loài cây có hiệu quả kinh tế thấp, không có khả năng bảo vệ môi trường, chống xói mòn và làm cho đất ngày càng trở nên thoái hoá. Xã Chiềng San, huyện Mường La, tỉnh Sơn La là một xã miền núi, nằm trong diện 135 cần được chính phủ hỗ trợ. Người dân địa phương chủ yếu là dân tộc Thái, H'Mông, họ thường sống tập trung thành các bản phân bố ở các chân núi và các dải núi cao và xa.

Sống ở nơi có nhiều tiềm năng cho sự phát triển như: Diện tích bình quân trên đầu người lớn, khí hậu mưa ẩm, rừng có khả năng phục hồi nhanh, hệ động thực vật phong phú. Tuy nhiên canh tác NR độc canh và săn bắt cạn kiệt đã làm cho rừng và đất xung quanh nơi ở của người dân bị suy thoái một cách nhanh chóng, cuộc sống người dân luôn trong tình trạng đói nghèo và lạc hậu, làm cho họ trở thành những người tác động nhiều nhất vào tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng là những người có cuộc sống khó khăn nhất, được hưởng lợi ít nhất từ rừng. Tập quán đốt nương làm rẫy dẫn đến nguyên nhân của các vụ cháy rừng lớn, nhỏ trên phạm vi toàn xã. Diện tích đất đai được đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp, nên mặc dù diện tích canh tác lớn nhưng người dân vẫn không đủ lương thực cho cuộc sống hàng ngày, trong xã vẫn còn tình trạng người dân bị thiếu đói, chưa đủ lương thực phục vụ cho nhu cầu tối thiểu hàng ngày.

Xã Chiềng San lại nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà tỉnh Sơn La, do đó vai trò phòng hộ đầu nguồn vô cùng quan trọng. Việc bảo tồn và phát triển rừng để cung cấp ổn định nguồn nước, ngăn c 2 cản xói mòn bồi lấp lòng hồ, duy trì công suất và tuổi thọ công trình thuỷ điện ngày càng bức thiết. Làm sao sớm ổn định cuộc sống của người dân, giảm bớt sự lệ thuộc của thu nhập từ các hoạt động phá rừng, từng bước chuyển hướng canh tác nương rẫy truyền thống sang trồng rừng NLKH, nhằm tăng diện tích rừng vùng đầu nguồn, hạn chế xói mòn là những vấn đề cần được giải quyết ở xã Chiềng San. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức canh tác nương rẫy vùng cao truyền thống sang canh tác nông lâm kết hợp tại xã Chiềng San, huyện Mường La, tỉnh Sơn La”.

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu CTNR và NLKH trên thế giới 1. Canh tác nương rẫy Canh tác nương rẫy là một hình thức sản xuất nông nghiệp lâu đời gắn liền với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng rừng núi không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là vùng nhiệt đới. Là một trong những hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất.

Đó là phương thức phát đốt, khởi đầu của nền trồng trọt. Nông nghiệp phát đốt đã được áp dụng từ kỷ nguyên Neolithic, không những ở các vùng nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương mà còn cả ở Châu Âu, bao gồm nhiều dân tộc với nhiều nguồn gốc khác nhau (Spenser,1986). Người nguyên thủy, khởi đầu dựa vào các đám cháy tự nhiên rồi về sau mới biết phát đốt để gieo trồng. Tại các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới nền công nghiệp cổ sơ ấy tồn tại cho đến ngày nay với nhiều tên gọi khác nhau: Ladang Huma (Indonesia), Jhum (India), Chena (Srilanca).Trong tiếng việt gọi là “Canh tác nương rẫy”.

Có nhiều khái niệm về CTNR nhưng khái niệm được dùng nhiều nhất “Canh tác nương rẫy (Shingting cultivation) được coi là những hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa” (Conklin, 1957). Phản ảnh quan điểm động, một định nghĩa mới gần đây được xuất hiện "Du canh là một chiến lược quản lý tài nguyên trong đó đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của phức hệ thực vật - đất của hiện trường canh tác" (Mc Grath, 1987). Các định nghĩa này nhằm nhấn mạnh và chú ý nhiều về tính chiến lược của quản lý tài nguyên rừng thông qua CTNR, về cả một quá trình khép kín của nông nghiệp DC trong quá trình luân canh, bỏ hoá, phục hồi độ phì đất và rừng, điều mà ít người quan tâm, chú ý tới. Về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, DC không được nhiều nước coi trọng bởi DC được coi như là sự lãng phí về sức người, tài nguyên đất đai, là c 4 nguyên nhân gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá sảy ra nghiêm trọng.

Phá rừng để làm NR trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể lãng phí nếu nhận thức rừng chỉ có giá trị duy nhất là từ gỗ (Grinnell, 1977, Arca, 1987 [32]). Có thể nói CTNR hiện nay đang là vấn đề được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về CTNR. Dựa trên những ý kiến và quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, Katherine (1991) đã tổng hợp những quan điểm chủ yếu về CTNR quay vòng (CTNR truyền thống).

Trong một công trình nghiên cứu về mối tương quan giữa việc sử dụng NR với độ phì của đất ta thấy tần số sử dụng đất có ảnh hưởng lớn tới độ phì đất. Amason và đồng tác giả (1982) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]), đã nghiên cứu hai đám nương của Mianma, cả hai đều được trồng ngô, một đám làm rẫy trên 100 năm với chu kỳ bỏ hoá 5 - 15 năm, một đám đã không sử dụng trên 50 năm. Trên đám nương bỏ hoá 50 năm, năng suất cây trồng đã tăng lên gấp đôi. Điều cơ bản chính là thời gian bỏ hoá càng dài, đất phục hồi lại độ phì càng tốt.

Phục hồi lại độ phì của đất qua bỏ hoá là một cách thích ứng của nông nghiệp DC nhằm sản xuất lương thực mà không cần sử dụng tới bón phân. Phương thức DC, bỏ hoá đứng về mặt sinh thái mà nói hoàn toàn hợp lý nếu thời gian bỏ hoá hoàn toàn được duy trì (Moran, 1981) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Bỏ hoá thành rừng cũng gọi là "bỏ hoá dài ngày" được coi như thành công khi nương phát và trồng trọt được "hưu canh" để tái sinh lại rừng "rậm". Theo cổ truyền xưa nay, đó vẫn là hình thức DC phổ biến nhất trong vùng nhiệt đới, nếu nương không lớn chỉ giống như các lỗ trống xuất hiện trên rừng và được "nhanh chóng hàn gắn" vết thương và tái sinh lại sẽ tiếp diễn ngay.

Rừng xung quanh sẽ là nguồn gieo giống cho lập địa và sẽ bảo vệ cho nó chống lại gió mạnh và xói mòn (UNESCO/UNEP, 1978). Các loài cây c 5 rừng mưa không thể tái sinh được ngoài môi trường rừng. Qua việc tạo nên các NR không lớn, và giữ lại các mảnh rừng quanh để làm nguồn gieo giống, người sử dụng tích cực điều khiển quá trình tái sinh của rừng theo đúng quy luật tự nhiên vốn có của nó (Clarke, 1976, Gomer Poma, 1972) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Tại Châu Phi thường có những NR gần nhà, NR xa nhà thường được gây trồng một thời gian ngắn và bỏ hoá khá lâu.

Rẫy gần nhà có xu hướng được canh tác lâu hơn và thời kỳ bỏ hoá ngắn hơn và trong một số vùng chúng trở thành những vườn hộ thâm canh. Càng đa dạng và có cơ sở di truyền rộng, hệ DC nông nghiệp sinh thái càng ổn định. Qua việc kết hợp với loài cây trồng khác nhau. giống khác nhau, NR khác nhau, người dân DC cố gắng xây dựng một hệ thống bền vững và ổn định nhất để đảm bảo an toàn lương thực.

Từ những điểm đã trình bày có thể diễn tả mô hình biến động sinh thái rừng nhiệt đới qua DC như sau (phỏng theo Jordan, 1985) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). + Chu kỳ du canh bỏ hoá Dựa vào các tài liệu tham khảo và nghiên cứu, Katherinewarrner đã đưa ra 6 giai đoạn trong chu kì DC, trong đó người dân DC cần đề ra những quyết định then chốt về vị trí, thời gian, loài cây trồng và đầu tư lao động, 6 giai đoạn đó là: chọn lập địa và phát quang, đốt, trồng, làm cỏ và bảo vệ, thu hoạch, diễn thế. + Thường nông dân DC có quyền chọn NR ở bất cứ nơi nào trong rừng. Cũng có các cộng đồng dân tộc quy định vùng được tiến hành làm NR.

Ở các vùng ẩm thuộc Đông Nam Á và lưu vực sông Ama zon người dân thường lựa chọn rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh để làm NR. Ngoài ra NR còn được lựa chọn dựa vào cự li cách xa nhà hoặc thôn bản, loài cây có thể gây trồng và lao động sẵn có. c 6 + Phát quang thường được tiến hành vào đầu mùa khô để có thời gian cho cây khô và có thể đốt được. Kĩ thuật quản lí thông thường được áp dụng để duy trì diễn thế rừng là chặt chọn.

Các loài cây có giá cao được giữ lại trong khi phát dọn, một số có thể chặt tái sinh chồi hoặc chặt ở tầm ngang bụng (Fosbrooke, 1974, Devevan, 1984) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Những cây gỗ tốt có khả năng sản xuất hạt, dầu hoặc quả ăn được, theo thường lệ được bảo vệ suốt trong thời kì canh tác và khi nương được bỏ hoá, chúng là cơ sở cho giai đoạn đầu tiên của quá trình diễn thế (Devevan 1984, Engle, 1984, Yandyi, 1982) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Đốt vô cùng quan trọng để cây trồng đạt năng suất mà tốn ít lao dộng. Rambo (1981) đốt có 6 ảnh hưởng tốt 1.

Dọn quang được thực bì không cần thiết trên nương; 2. Làm thay đổi cấu tượng của đất để trồng cây dễ dàng; 3. Nâng cao độ phì của đất nhờ tro; 4. Làm giảm độ chua của đất ; 5.

Làm tăng khả năng dễ tiêu của chất dinh dưỡng trong đất; 6. Làm giảm các quần thể vi sinh vật côn trùng và hạt cỏ trong đất. Chọn thời điểm đốt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thời tiết và tốt nhất kết thúc vào ngay trước khi mùa mưa tới. NR nhiều tầng, xen canh rất đa dạng giống như cấu trúc của rừng tự nhiên có thể tìm thấy tại vùng Amazon và Đông Nam Á.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Chuyển Đổi Phương Thức Canh Tác Nương Rẫy Sang Nông Lâm Kết Hợp Tại Xã Chiềng San" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc chuyển đổi phương thức canh tác truyền thống sang mô hình nông lâm kết hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ những lợi ích của việc áp dụng mô hình mới, mà còn chỉ ra các thách thức và giải pháp cần thiết để thực hiện thành công. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức cải thiện năng suất cây trồng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững trong nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp canh tác bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, nơi trình bày các biện pháp kỹ thuật trong canh tác hồ tiêu. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất trong nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện ba vì tỉnh hà tây cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến phát triển chăn nuôi bền vững. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và kỹ thuật trong nông nghiệp hiện đại.