ĐẶT VẤN ĐỀ Vùng trung du miền núi nước ta chiếm khoảng 3/4 diện tích toàn quốc, nơi tập trung các đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Trên diện tích đồi núi đó, đồng bào các dân tộc thực hiện phương thức sản xuất du canh, phát nương làm rẫy với những loài cây có hiệu quả kinh tế thấp, không có khả năng bảo vệ môi trường, chống xói mòn và làm cho đất ngày càng trở nên thoái hoá. Xã Chiềng San, huyện Mường La, tỉnh Sơn La là một xã miền núi, nằm trong diện 135 cần được chính phủ hỗ trợ. Người dân địa phương chủ yếu là dân tộc Thái, H'Mông, họ thường sống tập trung thành các bản phân bố ở các chân núi và các dải núi cao và xa.
Sống ở nơi có nhiều tiềm năng cho sự phát triển như: Diện tích bình quân trên đầu người lớn, khí hậu mưa ẩm, rừng có khả năng phục hồi nhanh, hệ động thực vật phong phú. Tuy nhiên canh tác NR độc canh và săn bắt cạn kiệt đã làm cho rừng và đất xung quanh nơi ở của người dân bị suy thoái một cách nhanh chóng, cuộc sống người dân luôn trong tình trạng đói nghèo và lạc hậu, làm cho họ trở thành những người tác động nhiều nhất vào tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng là những người có cuộc sống khó khăn nhất, được hưởng lợi ít nhất từ rừng. Tập quán đốt nương làm rẫy dẫn đến nguyên nhân của các vụ cháy rừng lớn, nhỏ trên phạm vi toàn xã. Diện tích đất đai được đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp, nên mặc dù diện tích canh tác lớn nhưng người dân vẫn không đủ lương thực cho cuộc sống hàng ngày, trong xã vẫn còn tình trạng người dân bị thiếu đói, chưa đủ lương thực phục vụ cho nhu cầu tối thiểu hàng ngày.
Xã Chiềng San lại nằm trong vùng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà tỉnh Sơn La, do đó vai trò phòng hộ đầu nguồn vô cùng quan trọng. Việc bảo tồn và phát triển rừng để cung cấp ổn định nguồn nước, ngăn c 2 cản xói mòn bồi lấp lòng hồ, duy trì công suất và tuổi thọ công trình thuỷ điện ngày càng bức thiết. Làm sao sớm ổn định cuộc sống của người dân, giảm bớt sự lệ thuộc của thu nhập từ các hoạt động phá rừng, từng bước chuyển hướng canh tác nương rẫy truyền thống sang trồng rừng NLKH, nhằm tăng diện tích rừng vùng đầu nguồn, hạn chế xói mòn là những vấn đề cần được giải quyết ở xã Chiềng San. Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi phương thức canh tác nương rẫy vùng cao truyền thống sang canh tác nông lâm kết hợp tại xã Chiềng San, huyện Mường La, tỉnh Sơn La”.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu CTNR và NLKH trên thế giới 1. Canh tác nương rẫy Canh tác nương rẫy là một hình thức sản xuất nông nghiệp lâu đời gắn liền với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng rừng núi không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là vùng nhiệt đới. Là một trong những hình thái nông nghiệp cổ sơ nhất.
Đó là phương thức phát đốt, khởi đầu của nền trồng trọt. Nông nghiệp phát đốt đã được áp dụng từ kỷ nguyên Neolithic, không những ở các vùng nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương mà còn cả ở Châu Âu, bao gồm nhiều dân tộc với nhiều nguồn gốc khác nhau (Spenser,1986). Người nguyên thủy, khởi đầu dựa vào các đám cháy tự nhiên rồi về sau mới biết phát đốt để gieo trồng. Tại các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới nền công nghiệp cổ sơ ấy tồn tại cho đến ngày nay với nhiều tên gọi khác nhau: Ladang Huma (Indonesia), Jhum (India), Chena (Srilanca).Trong tiếng việt gọi là “Canh tác nương rẫy”.
Có nhiều khái niệm về CTNR nhưng khái niệm được dùng nhiều nhất “Canh tác nương rẫy (Shingting cultivation) được coi là những hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa” (Conklin, 1957). Phản ảnh quan điểm động, một định nghĩa mới gần đây được xuất hiện "Du canh là một chiến lược quản lý tài nguyên trong đó đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của phức hệ thực vật - đất của hiện trường canh tác" (Mc Grath, 1987). Các định nghĩa này nhằm nhấn mạnh và chú ý nhiều về tính chiến lược của quản lý tài nguyên rừng thông qua CTNR, về cả một quá trình khép kín của nông nghiệp DC trong quá trình luân canh, bỏ hoá, phục hồi độ phì đất và rừng, điều mà ít người quan tâm, chú ý tới. Về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, DC không được nhiều nước coi trọng bởi DC được coi như là sự lãng phí về sức người, tài nguyên đất đai, là c 4 nguyên nhân gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá sảy ra nghiêm trọng.
Phá rừng để làm NR trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể lãng phí nếu nhận thức rừng chỉ có giá trị duy nhất là từ gỗ (Grinnell, 1977, Arca, 1987 [32]). Có thể nói CTNR hiện nay đang là vấn đề được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới về CTNR. Dựa trên những ý kiến và quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, Katherine (1991) đã tổng hợp những quan điểm chủ yếu về CTNR quay vòng (CTNR truyền thống).
Trong một công trình nghiên cứu về mối tương quan giữa việc sử dụng NR với độ phì của đất ta thấy tần số sử dụng đất có ảnh hưởng lớn tới độ phì đất. Amason và đồng tác giả (1982) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]), đã nghiên cứu hai đám nương của Mianma, cả hai đều được trồng ngô, một đám làm rẫy trên 100 năm với chu kỳ bỏ hoá 5 - 15 năm, một đám đã không sử dụng trên 50 năm. Trên đám nương bỏ hoá 50 năm, năng suất cây trồng đã tăng lên gấp đôi. Điều cơ bản chính là thời gian bỏ hoá càng dài, đất phục hồi lại độ phì càng tốt.
Phục hồi lại độ phì của đất qua bỏ hoá là một cách thích ứng của nông nghiệp DC nhằm sản xuất lương thực mà không cần sử dụng tới bón phân. Phương thức DC, bỏ hoá đứng về mặt sinh thái mà nói hoàn toàn hợp lý nếu thời gian bỏ hoá hoàn toàn được duy trì (Moran, 1981) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Bỏ hoá thành rừng cũng gọi là "bỏ hoá dài ngày" được coi như thành công khi nương phát và trồng trọt được "hưu canh" để tái sinh lại rừng "rậm". Theo cổ truyền xưa nay, đó vẫn là hình thức DC phổ biến nhất trong vùng nhiệt đới, nếu nương không lớn chỉ giống như các lỗ trống xuất hiện trên rừng và được "nhanh chóng hàn gắn" vết thương và tái sinh lại sẽ tiếp diễn ngay.
Rừng xung quanh sẽ là nguồn gieo giống cho lập địa và sẽ bảo vệ cho nó chống lại gió mạnh và xói mòn (UNESCO/UNEP, 1978). Các loài cây c 5 rừng mưa không thể tái sinh được ngoài môi trường rừng. Qua việc tạo nên các NR không lớn, và giữ lại các mảnh rừng quanh để làm nguồn gieo giống, người sử dụng tích cực điều khiển quá trình tái sinh của rừng theo đúng quy luật tự nhiên vốn có của nó (Clarke, 1976, Gomer Poma, 1972) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Tại Châu Phi thường có những NR gần nhà, NR xa nhà thường được gây trồng một thời gian ngắn và bỏ hoá khá lâu.
Rẫy gần nhà có xu hướng được canh tác lâu hơn và thời kỳ bỏ hoá ngắn hơn và trong một số vùng chúng trở thành những vườn hộ thâm canh. Càng đa dạng và có cơ sở di truyền rộng, hệ DC nông nghiệp sinh thái càng ổn định. Qua việc kết hợp với loài cây trồng khác nhau. giống khác nhau, NR khác nhau, người dân DC cố gắng xây dựng một hệ thống bền vững và ổn định nhất để đảm bảo an toàn lương thực.
Từ những điểm đã trình bày có thể diễn tả mô hình biến động sinh thái rừng nhiệt đới qua DC như sau (phỏng theo Jordan, 1985) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). + Chu kỳ du canh bỏ hoá Dựa vào các tài liệu tham khảo và nghiên cứu, Katherinewarrner đã đưa ra 6 giai đoạn trong chu kì DC, trong đó người dân DC cần đề ra những quyết định then chốt về vị trí, thời gian, loài cây trồng và đầu tư lao động, 6 giai đoạn đó là: chọn lập địa và phát quang, đốt, trồng, làm cỏ và bảo vệ, thu hoạch, diễn thế. + Thường nông dân DC có quyền chọn NR ở bất cứ nơi nào trong rừng. Cũng có các cộng đồng dân tộc quy định vùng được tiến hành làm NR.
Ở các vùng ẩm thuộc Đông Nam Á và lưu vực sông Ama zon người dân thường lựa chọn rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh để làm NR. Ngoài ra NR còn được lựa chọn dựa vào cự li cách xa nhà hoặc thôn bản, loài cây có thể gây trồng và lao động sẵn có. c 6 + Phát quang thường được tiến hành vào đầu mùa khô để có thời gian cho cây khô và có thể đốt được. Kĩ thuật quản lí thông thường được áp dụng để duy trì diễn thế rừng là chặt chọn.
Các loài cây có giá cao được giữ lại trong khi phát dọn, một số có thể chặt tái sinh chồi hoặc chặt ở tầm ngang bụng (Fosbrooke, 1974, Devevan, 1984) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Những cây gỗ tốt có khả năng sản xuất hạt, dầu hoặc quả ăn được, theo thường lệ được bảo vệ suốt trong thời kì canh tác và khi nương được bỏ hoá, chúng là cơ sở cho giai đoạn đầu tiên của quá trình diễn thế (Devevan 1984, Engle, 1984, Yandyi, 1982) (theo Võ Đại Hải, 2003 [8]). Đốt vô cùng quan trọng để cây trồng đạt năng suất mà tốn ít lao dộng. Rambo (1981) đốt có 6 ảnh hưởng tốt 1.
Dọn quang được thực bì không cần thiết trên nương; 2. Làm thay đổi cấu tượng của đất để trồng cây dễ dàng; 3. Nâng cao độ phì của đất nhờ tro; 4. Làm giảm độ chua của đất ; 5.
Làm tăng khả năng dễ tiêu của chất dinh dưỡng trong đất; 6. Làm giảm các quần thể vi sinh vật côn trùng và hạt cỏ trong đất. Chọn thời điểm đốt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thời tiết và tốt nhất kết thúc vào ngay trước khi mùa mưa tới. NR nhiều tầng, xen canh rất đa dạng giống như cấu trúc của rừng tự nhiên có thể tìm thấy tại vùng Amazon và Đông Nam Á.