CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BAN VE NGHEO DOI VÀ CHUONG TRÌNH 135 1. Khái niệm về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 1. Đói nghèo Đói (hay thiếu đói), theo giác độ xã hội là lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đó là tình trạng thiếu thốn, khó khăn về đời sông vật chất đến mức nhu cầu thiết yéu số một dé tồn tại (nhu cầu ăn) cũng không thé đáp ứng được.
Người bi thiếu đói thường là do gặp phải hoàn cảnh khó khăn về điều kiện sinh sống, như không có đủ điều kiện sản xuất, tạo thu nhập; không đủ sức lao động; hoặc gặp phải những sự cố bat thường như ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh. Nghèo là ở vào tình trạng không có hoặc córất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu củađời sống vật chất. Người nghèo thường cũng do gặp phải những hoàn cảnh nêu trên, nhưng mức độ ít gay gắt hơn, nên có thể trang trải được lương thực cho nhu cầu ăn, không bị đói. Tuy phân chia về mức độ như vậy, nhưng trên thực tế ranh giới đói, nghèo; thiếu hay không thiếu lương thực cũng rất mong manh.
Vì vậy, trong nhiều trường hợp người ta vẫn gộp chung lại, gọi là tình trạng đói nghéo[27]. Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực chau A - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, đã định nghĩa: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Định nghĩa đó cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận trong quá trình xây dựng và tô chức thực hiện “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2685/VPCP-QHQT, ngày 21 tháng 5 năm 2002. Xóa đói giảm nghèo Xóa đói, giảm nghéo(XDGN) là làm cho người nghèo, vùng nghèo có cơ hội tăng thêm thu nhập từ lao động của chính họ và sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng: có khả năng tiếp cận được các dịch vụ xã hội dé nâng cao đời sống.
XDGN là hy vọng của mỗi người dân, là tuyên ngôn và hành động của mọi Nhà nước, được coi như một trong các yêu cầu tiên quyết cho sự phát triển bình thường của xã hội và hiệu quả quản lý quốc gia. Cơ chế, chính sách XPGN là hệ thông các quy định của Nhà nước về phương thức tổ chức, quản lý, vận hành và những nguyên tắc, chuân mực cụ thé nhằm hỗ trợ các đối tượng đói nghèo có cơ hội huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để vượt qua những trở ngại, khó khăn, yếu thế, tiếp cận các dịch vụ xã hội, tổ chức sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, vươn lên thoát nghèo. Cơ chế, chính sách XDGN ở nước ta được thực hiện thông qua các chương trình, dự án, các quy định của Nhà nước như Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005, theo Quyết định 143/2001/QD-TTg, ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ; Dự dnkhuyén nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 theo Quyết định 20/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quy định về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bảo dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngay 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Các thước đo về đói nghèo 1.
Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo) Ngưỡng nghèo là mức độ về đời sống, được xác định dé phân chia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo”. Đây là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tình trạng đói nghèo và đối tượng cần hỗ trợ XĐGN. Có 2 loại ngưỡng nghèo là ngưỡng nghèo tuyệt đối và ngưỡng nghèo tương đối. Ngưỡng nghèo tuyệt đối là số tuyệt đôi về mức sông của cá nhân, hộ gia đình được coi là nghéo, trong một khoảng thời gian nhất định của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
Tuỳ thuộc vào mức sống chung và trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn, cấp chính quyền ban hành ngưỡng nghèo tuyệt đối cho quốc gia, vùng lãnh thé, khu vực hoặc địa phương. Khi trình độ phát triển còn thấp, một bộ phận đáng ké cư dan còn chưa đủ ăn, người ta thường ban hành ngưỡng nghèo tuyệt đối về lương thực, thực phẩm (là số tiền cần thiết dé mua được một lượng lương thực, thực phẩm bảo đảm cung cấp một lượng calo dé duy trì cuộc sống và tái sản xuất sức lao động); và ngưỡng nghèo chung (có tính đến số tiền chi tiêu cho cả các sản phẩm phi lương thực khác). Ở nước ta, ngưỡng nghèo tuyệt đối được ban hành cho từng giai đoạn, theo các khu vực. Giai đoạn 1996-2000: nông thôn miền núi, hải đảo 55.000 đồng/người/tháng: nông thôn đồng bằng: 70.
Giai đoạn 2000 — 2005: nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ; nông thôn đồng băng: 100. Giai đoạn 2006 — 2010: quy định 2 ngưỡng nghèo là: nông thôn: 200. Ngoài ra cũng sử dụng thước đo về thu nhập bình quân đầu người trong hộ một tháng quy gạo đề làm chuẩn đói: Giai đoạn 1993- 1995: thành thị dưới 13kg, nông thôn: dưới 8kg; giai đoạn 1995-2000: dưới 13kg cho tất cả các vùng. Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra ngưỡng nghèo tuyệt đối là 1USD/người/ngày (theo giá năm 1999) cho các nước có GNP bình quân đầu người từ 755 USD/năm trở xuống (nước có thu nhập thấp) và 2 USD/người/ngày cho các nước có thu nhập 756 đến 2.
Ngưỡng nghèo tương doi là mức sông (mức thu nhập) của đối tượng, tính theo tỷ lệ phần trăm so với thu nhập trung bình đầu người của toàn xã hội. Tỷ lệ này thường được xác định ở mức 50% hoặc 60%. Những người có mức thu nhập ròng thấp hơn mức này thi được coi là người nghéo. Tỷ lệ đói nghèo Tỷ lệ đói nghèo là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng người nghèo (hoặc hộ nghèo) trên tổng dân số (hoặc tổng số hộ).
Đây là một thước đo đói nghèo thông dụng đề đánh giá tình trạng đói nghèo cho mỗi vùng, mỗi địa phương. Mặt hạn chế của chỉ tiêu này là chưa thé hiện đầy đủ được mức độ và tính chất đói nghèo so với chuẩn nghèo (mức độ nam dưới, cách xa ngưỡng nghèo; mức độ cận trên chuẩn nghèo) do đó không chỉ rõ được cơ cấu đầy đủ của tình trạng đói nghèo. Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ đói nghèo thì sẽ khó khăn trong việc đưa ra chính sách XDGN sát hợp với từng loại đối tượng, ở từng vùng (như nghèo giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người kinh; giữa vùng đồng bằng, trung du với vùng cao. Khoảng nghèo Khoảng nghèo được tinh bằng tổng mức thiếu hụt của tất cả những người nghèo so với ngưỡng nghèo.
Đây là chỉ tiêu để đánh giá bổ sung cho mức độ đói nghèo của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi vùng, mỗi địa phương. Trên cơ sở đó để hoạch định chính sách XDGN cho phù hợp. Nó cũng cho tahình dung về mức chi phi cần phải đầu tư dé tất cả những người nằm dưới ngưỡng nghèo có thể vươn lên đạt mức sống ngang bằng với ngưỡng nghẻo. Nguyên nhân của đói nghèo Trên Thế giớiđã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân đói nghèo.
Phil Bartle, chuyên gia xã hội học của các cộng đồng, cố van cho nhiều dự án phát triển đã đưa ra mô hình về 5 yếu tô lớn dẫn đến sự nghèo đói, đó là: (1) Sự thiếu hiểu biết: không chỉ là do thiếu kiến thức mà chủ yếu là sự thiếu những thông tin cần thiết, hữu ich cho người nghéo. Vì vậy, việc giáo dục, dao tạo cần phải chọn lọc những kiến thức phù hợp dé giảng day, đặc biệt là đối với các cộng đồng dân cư có tính đặc thù như đồng bào dân tộc thiêu số. (2) Om đau, bệnh tật: là nhân tố làm giảm khả năng lao động, thu không đủ chi, dẫn tới đói nghèo; cần dé cao vai trò y tế cơ sở và tạo cơ hội dé người nghèo tiếp cận các dịch vu y tế. (3) Sự lãnh đạm: khi con người cảm thấy bat lực trước hoàn cảnh, không còn ý chí vươn lên dé cải thiện tinh trạng nghèo đói của minh.
(4) Tệ nạn tham nhũng: không chi làm giảm nguồn tiền hỗ trợ giảm nghéo do quan chức chính phủ xà xẻo mà nghiêm trong hơn là nó có thê làm méo mó chính sách, suy giảm lòng tin của người nghèo. Ở Việt Nam, trải qua lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước, nhân dân ta đã phải tiêu tôn không ít sức lực và của cải, sản xuât bị đình trệ, kêt câu hạ 10 tầng bị phá hủy. là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng đói nghèo. Ngoài những nguyên nhân đó, trong thời kỳ xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nguyên nhân đói nghèo được phân theo 8 nhóm chủ yếu sau[33]: - Nguồn lực hạn chế: gồm tài lực (vốn đầu tư), vật lực (đất đai, tư liệu sản xuất.), nhất là nguồn nhân lực, vì người nghèo không có điều kiện đầu tư cho tái sản xuất sức lao động của họ.
Nhân lực thấp lại càng can trở khả năng thoát nghèo; tình trạng thiếu đất đai có xu hướng tăng lên trong quá trình tập trung, tích tụ ruộng đất; không có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, bảo vệ thực vật; thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng, do không đủ điều kiện thế chấp; thiếu thông tin về pháp luật, chính sách, thị trường. - Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không én định: Không có điều kiện học tập, và vì vậy thiếu khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Học van thấp nên cơ hội tìm việc làm ở các ngành có thu nhập cao (thường là các ngành phi nông nghiệp) cũng rat hạn chế. - Thiếu điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Người nghèo không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó năm bắt; mạng lưới các dịch vụ pháp lý còn hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu mới tập trung ở các thành phó, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao. - Đồng con, vừa là nguyên nhân vừa là hệ qua của nghéo đói.