Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI VỊ TỪ Nội dung chính của chương này đưa ra những cơ sở lý thuyết về SVC như những định nghĩa về SVC dưới các góc nhìn khác nhau; những đặc điểm về SVC và những cách phân loại SVC theo nhiều hướng tiếp cận.1 Định nghĩa SVC Theo Osam (1994:190), “Một trong những vấn đề liên quan đến việc nghiên cứu chuỗi vị từ (serial verbs) trong các ngôn ngữ là khó có hai tác giả cùng đồng ý hoàn toàn một hiện tượng gọi là kết cấu vị từ chuỗi (serial verb construction – SVC). Điều này chứng minh rằng có nhiều định nghĩa khác nhau (về chuỗi vị từ) của nhiều tác giả khác nhau.” Lord (1993:1) cũng có ý kiến tương tự khi đề cập về SVC: “Sự khái quát hóa về chuỗi vị từ trong ngôn ngữ này không nhất thiết áp dụng vào những kết cấu tương tự trong ngôn ngữ khác.” Quan sát và giải thích SVC sớm nhất là Christaller (1875). Ông cho rằng có 2 kiểu kết hợp vị từ: (i) kết hợp ngẫu nhiên (accidental combination) và (ii) kết hợp phụ thuộc (essential combination). Ông giải thích như sau: (i) Kết hợp ngẫu nhiên là kết hợp có hai hay nhiều vị từ (có hay không có bổ ngữ) thực hiện những hành động liên tiếp khác nhau, biểu thị một trạng thái hay hành động đồng thời nhưng có cùng chủ ngữ; không có liên từ và không lặp lại chủ ngữ.
(ii) Kết hợp phụ thuộc là ngữ vị từ có một vị từ chính và một vị từ khác là trợ động từ bổ sung. Trợ động từ bổ sung có thể là trạng ngữ thời gian, phương thức, phụ ngữ, bổ ngữ, …Những hành động thực hiện bởi hai vị 10 từ là đồng thời, có quan hệ nội tại không thể tách rời, liên kết nhau (1875:144). Foley và Olson (1985:18) đưa ra nhiều tác tử hơn: thể của chủ ngữ, chia sẻ tham tố, không có bất cứ liên từ nào đan xen. SVC chứa hai hay nhiều vị từ, mỗi vị từ trong chuỗi có thể có một tham tố không chia sẻ với vị từ khác.
Baker (1989) xem kết cấu có nhiều vị từ kết chuỗi như một vị từ đơn; thường có một giá trị thì thể cho toàn bộ SVC; có cấu trúc vị ngữ đơn và có cùng tham tố. Ông cũng cho rằng các SVC hành chức khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau. Goldberg (1995) quan niệm SVC là chuỗi gồm các vị từ hành chức như một vị ngữ đơn nhất, không có bất kỳ liên từ nào đánh dấu quan hệ cú pháp giữa các vị từ thành tố. SVC miêu tả một sự tình đơn nhất, có cấu trúc nội tại gồm các sự tình bộ phận do các vị từ thành tố biểu thị.
Aikhenvald (2006) cho rằng SVC là sự kết hợp của các vị từ với nhau, hành chức như một ngữ vị ngữ đơn, không có bất kỳ sự đánh dấu bởi liên từ và phụ từ hay cú pháp thuộc bất cứ kiểu nào. SVC mô tả một câu đơn và mang thuộc tính ngữ điệu của một câu đơn. SVC có thể chia sẻ tham tố trực tiếp và gián tiếp. Tập hợp từ những định nghĩa về SVC của các nhà nghiên cứu khác nhau như Baker (1989), Goldberg (1995), Aikhenvald (2006), chúng tôi rút ra định nghĩa chung cho chuỗi vị từ (SVC): (i) Đó là chuỗi có nhiều động từ cùng xuất hiện bên cạnh nhau như một vị thể đơn nhất, biểu hiện nhiều tiểu sự tình gắn bó mật thiết với nhau và có tính tuần tự, kế tiếp nhau trong một sự tình phức hợp, không có bất kỳ liên từ nào đánh dấu quan hệ cú pháp giữa các vị từ trong chuỗi.
Ngoài ra, định nghĩa SVC có thể dựa vào ngữ nghĩa hay cú pháp-ngữ nghĩa: 1.1 Định nghĩa SVC dựa vào ngữ nghĩa Dựa vào đặc tính cú pháp của SVC, Li và Thompson (1981, 1989) xác định SVC trong tiếng Hán theo ngữ nghĩa là câu có hai hay nhiều động ngữ liền kề hoặc những cú không có bất kỳ sự đánh dấu chỉ ra mối quan hệ giữa chúng. Yin (2007) viết: “SVC đề cập đến chuỗi vị từ hoặc ngữ vị từ trong câu mà không có liên từ đan xen”. Lipenkova và Müller (2009) coi SVC như “một cấu trúc vị ngữ phức hình thành do hai hay nhiều động ngữ có cùng một chủ ngữ”, còn Tao (2009) cho rằng SVC đề cập đến “một cấu trúc cú pháp có hai hay nhiều động từ liền kề hình thành một vị ngữ phức biểu thị chuỗi hành động có quan hệ với nhau trong câu đơn”. Công trình nghiên cứu đầu tiên của Li và Thompson (1973) về SVC trong tiếng Mandarin–Trung Quốc đã tập trung vào ngữ nghĩa.
Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đưa ra 4 kiểu kết cấu cơ bản của SVC dựa vào tính thời gian hay vào mục đích quan hệ: tính liên tục, mục đích, đồng thời và tính luân phiên. (i) Tính liên tục (consecutive) Vd: Thằng bé thay quần áo, ném trên sàn nhà. (ii) Mục đích (purpose) Vd: Chúng tôi tổ chức họp báo giải trình vấn đề đó. (iii) Tính đồng thời (simultaneous) 12 Vd: Hoàng lấy xe chạy đi.
(iv) Tính luân phiên (alternating) Vd: Mỗi ngày, Hoàng nhận khách, sắp xếp phòng cho khách. Tuy nhiên theo nhận xét của một số nhà ngôn ngữ học, định nghĩa SVC dựa trên ngữ nghĩa là “cực kỳ khó để tìm tiêu chí phi cú pháp cho việc xác định SVC" (Sebba, 1987:3). Thứ nhất là thuộc tính phi cú pháp không phải lúc nào cũng thích hợp trong việc phân loại (Yin 2007). Thứ hai là khó phân biệt SVC với “những kết cấu chứa bổ ngữ nguyên dạng” (infinitival complements); những kết cấu này không khác biệt với SVC về mặt hình thái (Sebba, 1987).
Vấn đề thứ ba, liên quan đến SVC là trật tự của các thành tố. SVC thường có nhiều cách sắp xếp khác nhau trong những câu đa vị từ. Sau đây là một số ví dụ minh họa trật tự thành tố trong tiếng Mandarin, Trung Quốc: (i) V NP V (ii) V NP V NP (iii) V V (iv) V V NP (v) V NP V NP V (Sebba 1987:4) Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các vị từ trong những cách sắp xếp này không phải lúc nào cũng giống nhau (Sebba 1987:4). Trong khi bản thân của những thành tố không có vấn đề gì nhưng chúng lại là những thách thức cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong nỗ lực miêu tả SVC như một nhóm cố kết.
So sánh SVC trong ngôn ngữ Tây Phi với SVC trong tiếng Mandarin – Trung Quốc cho thấy rằng mỗi vị từ trong SVC của ngôn ngữ Tây Phi có thể đảm nhận một chức năng ngữ 13 nghĩa khác nhau, trong khi các vị từ trong SVC của tiếng Mandarin có “mối quan hệ dường như liên quan đến thời đoạn và ngữ dụng” (1987:4).2 Định nghĩa SVC dựa trên cú pháp-ngữ nghĩa Khác với cách tiếp cận SVC ở một bình diện, cú pháp hay ngữ nghĩa, còn có cách tiếp cận SVC trên cả bình diện cú pháp và ngữ nghĩa (Sebba 1987:5). Theo cách tiếp cận SVC dựa trên đặc trưng cú pháp-ngữ nghĩa, SVC đề cập đến vấn đề tham tố, chỉ có một chủ ngữ cách (về mặt cú pháp) đại diện trong SVC (Goddard, 2005), cùng chia sẻ ít nhất một tham tố (Aikhenvald, 2006). Chủ ngữ của chuỗi vị từ đồng sở chỉ với vị từ chính (Clark 1992:147). Vd: - Cái chai trôi vào bờ biển.
- Chúng tôi mua cá về, làm sạch, chiên ăn. - Anh ấy cầm dao chặt thịt. Những câu có bổ ngữ vừa là bổ ngữ trực tiếp của vị từ thứ nhất vừa là chủ ngữ cho vị từ thứ hai cũng được coi là một kiểu chuỗi (Aikhenvald 2006 & Sebba 1997: tr. Vd: - Thằng bé xô bạn ngã.
- Cô ấy giặt quần áo sạch. Định nghĩa SVC dựa trên cú pháp-ngữ nghĩa cũng đề cập đến điều kiện cú, sự tình, thuộc tính thời gian: tất cả vị từ phải xuất hiện trong một cú (Foley và Olsen 1995, Baker 1989), đề cập đến “một sự tình đơn nhất” (single unitary event) (Aikhenvald, 2006) hay “sự tình khái niệm” (conceptual event) (Jarkey: 12), Trong trường hợp có tiểu sự tình (sub-events), các sự tình này được coi là sự tình vệ tinh của “sự tình mẹ” (macro-events) (Payne). Giải thích cho sự tình này có thể dựa vào trải nghiệm hay ngữ cảnh văn hóa (Goddard 2005: 122-124). 14 Thuộc tính thời gian của SVC phải đồng thời với thì của vị từ đứng trước (Clark 1992: tr.148), nếu chuỗi vị từ biểu thị một sự tình chuyển động thì yếu tố thời gian có thể ở sau vị từ đứng trước cùng thì, thể, thức (Tense-Aspect-Mood: TAM) yếu tố thời gian phải áp dụng cho toàn bộ cấu trúc (Aikhenvald: 2006).
Trong chuỗi vị từ, TAM có thể đánh dấu trên một hoặc hai vị từ, mỗi vị từ được đánh dấu có cùng thì, thể, thức hay lực ngôn trung như vị từ chính. Định nghĩa SVC dựa trên ngữ nghĩa hay cú pháp- nghĩa thì trên thực tế, các nhà nghiên cứu thường xây dựng định nghĩa theo cách riêng phù hợp cho từng loại ngôn ngữ mà họ nghiên cứu. Chẳng hạn như SVC trong tiếng Mandarin – Trung Quốc, tiếng Việt cho phép có bổ ngữ khác nhau còn SVC trong tiếng Hmong Trắng thì có tham tố cách khác nhau (Aikhenvald). Clark không nhất trí với quan điểm của Fuller đã tuyên bố (1989) “lược bỏ danh ngữ đồng sở chỉ” Các yếu tố khác nhau được phép hay không được phép đề cập trong định nghĩa chuỗi vị từ phụ thuộc vào tiếng nói và ngôn ngữ đó.2 Đặc điểm của SVC Trong những nghiên cứu gần đây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã mô tả hiện tượng SVC trong các ngôn ngữ dần dần có nhiều chi tiết hơn, nhiều nghiên cứu bổ sung được cập nhật, phân tích thêm nhiều khía cạnh khác nhau của SVC, giúp chúng ta hiểu và nhìn nhận thấu đáo hơn về chúng.
Tuy nhiên, vẫn có vài khía cạnh khác về SVC vẫn chưa được thống nhất. Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tranh luận về các định nghĩa, đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của SVC, việc xác định phạm trù SVC, kiểu SVC. Aikhenvald (2006) đã phân loại đặc điểm SVC dựa trên một số tham tố gồm: (a) Sự cấu tạo (composition): SVC đối xứng (symmetrial SVC) gồm hai hay nhiều vị từ, thuộc lớp vị từ có ngữ nghĩa và ngữ pháp không hạn định; trong khi 15 SVC phi đối xứng (asymmertrial SVC) gồm vị từ thuộc lớp vị từ có ngữ nghĩa và ngữ pháp hạn định (như vị từ chuyển động hay vị từ tư thế…) (b) Sự liền kề hay không liền kề của các thành tố (Contiguity versus non- contiguity of components): những vị từ hình thành nên SVC phải là những vị từ liền kề nhau, không có thành tố nào xen giữa chúng; trong khi các cấu trúc khác với SVC thì cho phép có tác tử đan xen giữa các vị từ.