Tổng quan luận án
Vấn đề xưng hô là yếu tố quan trọng hàng đầu trong giao tiếp ngôn ngữ, đóng vai trò định vị khung giao tiếp, thiết lập quan hệ liên nhân và phản ánh các đặc trưng văn hóa, tôn ti trật tự xã hội của cộng đồng bản ngữ. Trong hệ thống các phong cách chức năng tiếng Việt, văn bản hành chính là loại hình văn bản được sử dụng phổ biến, chịu sự chế định nghiêm ngặt của pháp luật và tuân thủ các quy chuẩn khuôn mẫu chặt chẽ. Mặc dù có tính chuẩn mực cao, hoạt động giao tiếp trong văn bản hành chính bắt buộc phải sử dụng các biểu thức xưng hô, đặc biệt là biểu thức xưng để xác lập tư cách pháp lý và trách nhiệm của chủ thể ban hành. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm thực hiện luận án, các công trình trong nước và quốc tế chủ yếu tiếp cận văn bản hành chính ở góc độ kỹ thuật soạn thảo, phong cách học, cú pháp hoặc phân tích diễn ngôn chung; chưa có công trình nào khảo sát và phân tích một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về hiện tượng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát toàn diện và có hệ thống hiện tượng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ đặc trưng xưng hô và hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực hành chính công vụ, từ đó cung cấp căn cứ khoa học phục vụ việc chuẩn hóa quy trình soạn thảo văn bản hành chính.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lí luận cần thiết về xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ: khái niệm xưng hô, phương tiện dùng để xưng hô, chức năng của xưng hô, các nhân tố chi phối đến xưng hô trong giao tiếp.
- Tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về văn bản hành chính: khái niệm, chức năng, đặc điểm của văn bản hành chính và phân loại văn bản hành chính tiếng Việt.
- Khảo sát và phân loại các biểu thức ngôn ngữ và cách thức xưng, hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.
- Phân tích, miêu tả các biểu thức xưng hô, cách xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.
- Phân tích và đánh giá về tính tương thích, lịch sự trong xưng hô của văn bản hành chính tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.
- Phạm vi tư liệu và không gian: Luận án tiến hành khảo sát 543 văn bản hành chính tiếng Việt thuộc các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế và của công dân (đơn từ) được thu thập từ nguồn sưu tầm thực tế tại các cơ quan, ban ngành và từ cơ sở dữ liệu văn bản
thuvienphapluat. Toàn bộ 543 văn bản được đưa vào diện khảo sát đều thỏa mãn tiêu chí có sự hiện diện đồng thời của cả biểu thức xưng (BTX) và biểu thức hô (BTH).
- Phạm vi thời gian: Các văn bản hành chính được ban hành trong giai đoạn từ năm 2009 đến hết năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được chia tách thành hai mảng lớn: nghiên cứu về từ ngữ xưng hô và nghiên cứu về văn bản hành chính tiếng Việt.
Về tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô:
- Trên thế giới:
- Hướng ngôn ngữ - văn hóa và ngôn ngữ - nhân chủng học với các học giả W.H.R. Rivers, L.H. Morgan, R. Lowie tiếp cận hệ thống danh từ thân tộc và đại từ nhân xưng dưới góc độ quan hệ xã hội được quy định bởi hôn nhân thay vì quan hệ huyết thống thuần túy.
- Hướng ngôn ngữ học cấu trúc với M.B. Emeneau (Studies in Vietnamese Grammar) phân tích đại từ xưng hô đích thực và lớp từ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ ("đại từ cương vị"); L.C. Thompson (A Vietnamese Grammar, A Vietnamese Reference Grammar) chỉ ra sự hạn chế về số lượng của đại từ nhân xưng thực thụ trong tiếng Việt và phân tích các cặp đối lập thay đổi / không thay đổi, đồng nhất / không đồng nhất của danh từ thân tộc khi làm phương tiện xưng hô.
- Hướng ngôn ngữ học chức năng với Lương Văn Hy (1990, Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học - hệ thống quy chiếu về người trong tiếng Việt) khảo sát hệ thống quy chiếu ngôi trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng với ba tiểu loại: đại từ nhân xưng, danh từ chung và danh từ riêng.
- Trong nước:
- Nghiên cứu ngữ pháp và từ loại: Nguyễn Văn Chiến (Lớp từ xưng hô tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối với các ngôn ngữ khác loại hình), Nguyễn Phú Phong (Đại từ nhân xưng tiếng Việt).
- Nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ - văn hóa: Phạm Ngọc Thưởng (1998, Các cách xưng hô trong tiếng Nùng), Phạm Ngọc Hàm (2004, Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt), Lã Thị Thanh Mai (2014, Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt), Nguyễn Minh Thuyết và Kim Young Soo (1996, Mấy nhận xét về từ xưng hô tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc), Hoàng Anh Thi (1995, Một số đặc điểm văn hóa Nhật - Việt qua việc khảo sát hệ thống từ xưng hô).
- Nghiên cứu phương ngữ và không gian giao tiếp: Lê Thanh Kim (2002, Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt), Bùi Minh Yến (2001, Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt), Trương Thị Diễm (Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt).
- Hướng ngôn ngữ học xã hội: Nguyễn Văn Khang xác lập 13 kiểu xưng hô trong giao tiếp tiếng Việt và phân tích tác động của biến số quyền lực, thân hữu và bối cảnh giao tiếp.
Về tình hình nghiên cứu văn bản hành chính:
- Trên thế giới: Tác giả khẳng định chưa có công trình nào nghiên cứu về văn bản hành chính tiếng Việt và hiện tượng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.
- Trong nước, các công trình được phân thành ba nhóm:
- Nhóm nghiên cứu quy cách và kỹ thuật soạn thảo: Bùi Khắc Việt (Kĩ thuật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lí nhà nước), Nguyễn Văn Thâm (Soạn thảo và xử lí văn bản quản lí Nhà nước), Học viện Hành chính Quốc gia (Giáo trình Kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản).
- Nhóm nghiên cứu phong cách học chức năng: Đinh Trọng Lạc (chủ biên, Phong cách học tiếng Việt), Cù Đình Tú (Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt).
- Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các bình diện ngôn ngữ cụ thể: Đỗ Thị Thanh Nga (2003, Câu trong văn bản hành chính), Vũ Ngọc Hoa (2012, Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành chính), Nguyễn Thị Hà (2010, Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn).
Vị trí và khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu về đại từ, danh từ cương vị, lý thuyết lịch sự và đặc trưng phong cách hành chính, luận án là công trình đầu tiên tập trung chuyên biệt vào việc nhận diện, phân loại, miêu tả cấu trúc ngữ pháp và phân tích ngữ dụng của các biểu thức xưng và biểu thức hô trong văn bản hành chính tiếng Việt trên một khối ngữ liệu thực tế xác định.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ, ngữ dụng học và lý thuyết văn bản hành chính:
- Khái niệm và bản chất của xưng hô:
- Luận án định nghĩa: "Xưng là hành động mà người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình (ngôi 1). Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong cuộc hội thoại, là tập hợp những cách thức mà người nói dùng để chỉ người đối thoại với mình (ngôi 2)".
- Phân biệt hành vi xưng hô (diễn ra thường xuyên, liên tục trong diễn ngôn để biểu thị quan hệ) và hành vi hô gọi (hành vi đơn lẻ của người nói nhằm thu hút sự chú ý hoặc phát tín hiệu bắt đầu giao tiếp).
- Chức năng của xưng hô trong giao tiếp:
- Chức năng định vị: Dựa trên quan điểm của Đỗ Hữu Châu và định nghĩa của J. Lyons về định vị không - thời gian và định vị nhân vật giao tiếp, xác định vị thế xã hội (trên, dưới, ngang bằng).
- Chức năng chiếu vật: Dựa trên quan điểm của G. Green, Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu về sự chuyển hóa nghĩa biểu vật thành nghĩa chiếu vật; thao tác chiếu vật đòi hỏi sự tồn tại của thực thể được quy chiếu và niềm tin chiếu vật giữa các bên tham gia giao tiếp.
- Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân: Dựa trên mô hình hai trục của Đỗ Hữu Châu gồm trục tung (trục quyền uy/vị thế xã hội - mang tính cố định tương đối) và trục hoành (trục thân cận/khoảng cách - mang tính biến động).
- Lý thuyết về lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ:
- Quan điểm phương Tây: Phân tích chiến lược giảm thiểu đụng độ qua lý thuyết rào đón và các phương sách làm dịu của B. Fraser (1990); nguyên lí lịch sự và phương châm hội thoại của R. Lakoff và G. Leech; lý thuyết thể diện của P. Brown và S. Levinson (1987) kế thừa từ E. Goffman về "thể diện âm tính" (mong muốn bảo toàn không gian riêng, quyền tự chủ) và "thể diện dương tính" (mong muốn hình ảnh cá nhân được thừa nhận, ủng hộ).
- Quan điểm phương Đông: Tiếp cận tính áp đặt của chuẩn mực xã hội lên hành vi cá nhân qua khái niệm "Lễ" và quan điểm khiêm - tôn của Gu (1990), tính cộng đồng và trật tự vị thế của Matsumoto (1988). Luận án đồng thuận với các nhà Việt ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Thị Thanh Hương) khi khẳng định lịch sự trong tiếng Việt bao hàm cả hai bình diện: lịch sự chiến lược (xã giao, tế nhị, khéo léo) và lịch sự chuẩn mực (quy ước, lễ phép, đúng mực).
- Lý thuyết về văn bản hành chính tiếng Việt:
- Khái niệm: Luận án tiếp thu định nghĩa tổng hợp từ các tác giả Vương Đình Quyền, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Đoàn Trọng Truyến, Vũ Thị Sao Chi để xác định: Văn bản hành chính là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức, quản lí và điều hành xã hội; thực hiện sự giao tiếp giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế và công dân trên cơ sở pháp lí.
- Chức năng: Chức năng thông tin, chức năng quản lí và chức năng pháp lí.
- Đặc điểm ngôn ngữ: Tính minh xác, tính khuôn mẫu (sử dụng khuôn ngôn ngữ hành chính đúc sẵn theo quan điểm của Phạm Tất Thắng), tính quy thức, tính quan phương và tính hiệu lực.
- Phân loại: Dựa trên thẩm quyền ban hành, hiệu lực pháp lí và tên loại, phân chia thành: Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Văn bản cá biệt (VBCB) và Văn bản hành chính thông thường (VBHCTT).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án sử dụng phối hợp 5 phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp miêu tả: Nhận diện, phân loại và mô tả các đặc điểm cấu tạo, vị trí và ngữ nghĩa của các biểu thức xưng hô trong văn bản.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích việc sử dụng biểu thức xưng hô gắn liền với ngữ cảnh giao tiếp hành chính, thể loại văn bản và vị thế giao tiếp của các nhân vật tham gia.
- Thủ pháp so sánh: So sánh việc sử dụng từ ngữ xưng hô giữa phong cách hành chính với ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, và giữa các tiểu loại văn bản hành chính với nhau.
- Thủ pháp mô hình hóa: Thiết lập mô hình cấu trúc của các biểu thức ngôn ngữ dùng để xưng và hô.
- Thủ pháp khảo sát, thống kê ngôn ngữ học: Định lượng hóa tần số xuất hiện của từng loại biểu thức xưng và biểu thức hô trên khối dữ liệu khảo sát.
Nguồn ngữ liệu khảo sát gồm 543 văn bản hành chính tiếng Việt ban hành từ năm 2009 đến năm 2019, ghi nhận 1.375 lượt xưng và 1.347 lượt hô.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 tập trung tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời xác lập hệ thống khái niệm công cụ cho đề tài. Trọng tâm của chương là việc phân loại văn bản hành chính dưới góc độ xưng hô. Luận án chỉ ra rằng các văn bản hành chính có thể chia thành hai nhóm lớn:
-
Văn bản hành chính chỉ có biểu thức xưng mà không có biểu thức hô: Là những văn bản làm căn cứ pháp lý chung cho xã hội (Hiến pháp, luật, lệnh, thông cáo, chương trình, đề án, biên bản, điều lệ, nội quy, giấy chứng nhận, thẻ, căn cước công dân, bằng cấp). Nhóm này không chứa hoạt động giao tiếp trực tiếp giữa người phát và người nhận cụ thể; người ban hành chỉ xưng danh, chức vụ, ký tên và đóng dấu ở cuối văn bản nhằm xác lập thẩm quyền pháp lý.
-
Văn bản hành chính có cả biểu thức xưng và biểu thức hô: Là những văn bản vừa có giá trị pháp lý vừa thể hiện hoạt động giao tiếp công vụ cụ thể giữa chủ thể ban hành và đối tượng tiếp nhận. Nhóm này được chia thành hai tiểu loại:
- Tiểu loại có vai xưng và vai hô tách bạch: Các bên giao tiếp sử dụng các từ ngữ định danh riêng biệt theo đúng thẩm quyền và chức vụ (chiếm đa số trong các VBQPPL, VBCB và VBHCTT).
- Tiểu loại có hai vai xưng và hô gộp lại: Thường xuất hiện trong các dạng hợp đồng kinh tế, dân sự hoặc thỏa thuận hành chính, trong đó các bên cùng xuất hiện dưới đại từ gộp "chúng tôi", sau đó phân định vai trò bằng các danh xưng quy ước có tính bình đẳng như "Bên A", "Bên B" và cùng ký tên ở cuối văn bản.
Bảng tổng hợp phân loại văn bản hành chính dưới góc độ xưng hô được luận án xác lập như sau:
| Loại hình văn bản |
Nhóm VBHC chỉ có BTX, không có BTH |
Nhóm VBHC có cả BTX và BTH (Vai xưng và hô tách bạch) |
Nhóm VBHC có cả BTX và BTH (Vai xưng và hô gộp lại) |
| VBQPPL |
Hiến pháp, luật, lệnh,... |
Nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư |
|
| VBCB |
|
Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị (cá biệt) |
|
| VBHCTT |
Thông cáo, chương trình, đề án, biên bản, điều lệ, nội quy, giấy chứng nhận, căn cước công dân, văn bằng, chứng chỉ,... |
Chỉ thị, quy chế, quy định, thông báo, hướng dẫn, kế hoạch, báo cáo, tờ trình, công văn, công điện, bản cam kết, bản đề nghị, bản tường trình, giấy ủy quyền, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công,... |
Hợp đồng |
Chương 2: Xưng trong văn bản hành chính tiếng Việt
Chương 2 phân tích bản chất, cấu trúc và vị thế giao tiếp của biểu thức xưng (BTX) trong văn bản hành chính. Khái niệm "xưng" trong văn bản hành chính được xác định là hành vi người hoặc cơ quan ban hành văn bản sử dụng biểu thức ngôn ngữ để định danh chính mình và chịu trách nhiệm pháp lý trước văn bản đó. Điểm khác biệt căn bản là vai xưng thuộc về người ký tên chịu trách nhiệm pháp lý của văn bản (thủ trưởng cơ quan, người có thẩm quyền), không phải là người trực tiếp soạn thảo văn bản (văn thư, trợ lý, thư ký).
Cơ cấu mẫu khảo sát 543 văn bản hành chính có cả BTX và BTH được thống kê cụ thể:
| STT |
Loại văn bản hành chính |
Số lượng văn bản |
Tỉ lệ % |
| I |
Văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định) |
98 |
18,05% |
| II |
Văn bản cá biệt (Nghị quyết, quyết định, chỉ thị cá biệt) |
76 |
14,00% |
| III |
Văn bản hành chính thông thường |
369 |
67,95% |
| 1 |
Tờ trình |
25 |
4,60% |
| 2 |
Bản cam kết, bản đề nghị, bản tường trình |
24 |
4,42% |
| 3 |
Giấy ủy quyền, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận, giấy mời |
26 |
4,79% |
| 4 |
Phiếu gửi, phiếu chuyển |
24 |
4,42% |
| 5 |
Đơn từ (đơn xin nghỉ học, đơn xin nghỉ phép, đơn xin bảo vệ luận án,...) |
25 |
4,60% |
| 6 |
Các loại VBHCTT khác (Công văn, thông báo, báo cáo, kế hoạch, quy chế,...) |
245 |
45,12% |
| Tổng |
Tổng số văn bản khảo sát |
543 |
100% |
Qua khảo sát 1.375 lượt xưng trong 543 văn bản, luận án xác định 7 dạng biểu thức ngôn ngữ dùng để xưng:
- Đại từ nhân xưng: Sử dụng các đại từ có tính trung hòa, chuẩn mực như "tôi" (số ít), "chúng tôi" (số nhiều) trong văn bản do cá nhân tạo lập hoặc trong hợp đồng; trường hợp đặc thù trong môi trường giáo dục có thể sử dụng danh từ thân tộc lâm thời làm đại từ nhân xưng như "em", "chúng em" (trong đơn từ học sinh, sinh viên gửi giáo viên/nhà trường).
- Danh từ chỉ chức vụ (Bộ trưởng, Giám đốc, Chủ tịch UBND,...).
- Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức (Chính phủ, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ,...).
- Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên riêng (Hiệu trưởng: [Họ và tên]).
- Biểu thức phối hợp tên riêng với từ chỉ chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
- Biểu thức phối hợp học hàm, học vị kết hợp với tên riêng, chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
- Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
Về vị trí xuất hiện của biểu thức xưng:
- Vị trí đầu văn bản: Thường xuất hiện trong phần tiêu ngữ, tên cơ quan ban hành hoặc dòng mở đầu văn bản cá nhân ("Tôi tên là...", "Chúng tôi gồm...").
- Vị trí giữa văn bản: Xuất hiện trong phần căn cứ ban hành, nội dung điều khoản thi hành hoặc lời trình bày ("Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định...", "Tôi làm đơn này xin trình bày...").
- Vị trí kết thúc văn bản: Xuất hiện bắt buộc tại phần ký tên, đóng dấu xác nhận tư cách pháp lý của người có thẩm quyền.
Về xưng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp:
- Vị thế ngang bằng: Thường dùng biểu thức định danh tổ chức hoặc công thức "chúng tôi / các bên" trong hợp đồng, công văn trao đổi giữa các cơ quan đồng cấp.
- Vị thế vai dưới đối với vai trên: Sử dụng đại từ "tôi", "em", kết hợp các công thức kính ngữ trong tờ trình, báo cáo, đơn từ.
- Vị thế vai trên đối với vai dưới: Sử dụng danh từ chỉ chức vụ hoặc tên cơ quan quyền lực nhà nước gắn với các hành vi ban hành mệnh lệnh trong quyết định, chỉ thị, thông tư.
Chương 3: Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt và một số vấn đề trong quan hệ giữa xưng và hô ở VBHC tiếng Việt
Chương 3 tập trung phân tích hành vi hô, các biểu thức hô (BTH) qua 1.347 lượt hô ở 543 văn bản và đánh giá mối quan hệ tương tác giữa xưng và hô:
- Đặc điểm của hành vi hô:
- Hô trong văn bản hành chính là hành động chủ thể ban hành sử dụng biểu thức ngôn ngữ để chỉ định đối tượng tiếp nhận văn bản, đối tượng thi hành hoặc các bên có liên quan chịu sự tác động của văn bản. Tần suất xuất hiện của biểu thức hô thường thấp hơn biểu thức xưng do tính chất tập trung quyền lực của chủ thể ban hành.
- Các biểu thức ngôn ngữ để hô và vị trí xuất hiện:
- Biểu thức hô gồm: Danh từ chỉ chức vụ của người nhận, biểu thức định danh cơ quan/tổ chức tiếp nhận, họ tên cá nhân tiếp nhận, hoặc các tổ hợp kết hợp kính ngữ ("Kính gửi:...", "Đồng kính gửi:...").
- Vị trí xuất hiện: Chủ yếu ở đầu văn bản (mục kính gửi), giữa văn bản (các điều khoản quy định trách nhiệm thi hành của các cơ quan, cá nhân cụ thể), và cuối văn bản (mục "Nơi nhận" ở góc dưới bên trái văn bản hành chính).
- Hô theo vị thế giao tiếp:
- Hô ở vị thế ngang bằng: Thường dùng tên cơ quan hoặc chức danh của đối tác phối hợp công tác.
- Hô từ vai trên xuống vai dưới: Dùng danh từ chức vụ cấp dưới hoặc danh xưng cơ quan cấp dưới gắn với cấu trúc điều khoản thi hành (ví dụ: "Các ông (bà) Chánh Văn phòng, Trưởng phòng... chịu trách nhiệm thi hành").
- Hô từ vai dưới lên vai trên: Sử dụng kèm các từ ngữ chỉ sự kính trọng như "Kính gửi", "Kính trình" kết hợp với chức danh/cơ quan cấp trên.
- Mối quan hệ giữa xưng và hô:
- Tính tương thích: Sự lựa chọn biểu thức xưng và biểu thức hô phải đảm bảo sự tương thích về mặt vị thế hành chính, thể loại văn bản và tính chất công vụ. Văn bản chỉ đạo từ trên xuống không dùng biểu thức xưng - hô mang tính cầu khiến hạ mình; ngược lại, văn bản đề xuất từ dưới lên phải tuân thủ đúng trật tự thứ bậc.
- Phép lịch sự trong xưng hô hành chính: Luận án chứng minh tính chất lịch sự trong văn bản hành chính tiếng Việt được định hình thông qua việc tích hợp giữa lịch sự chuẩn mực (tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật về thể thức, thứ bậc quyền lực, không dùng từ ngữ suồng sã) và lịch sự chiến lược (sử dụng các khuôn nghi thức, kính từ để duy trì sự tôn trọng và tạo thuận lợi cho việc xử lý công vụ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung và làm sâu sắc thêm lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ và lý thuyết phong cách học chức năng tiếng Việt, đặc biệt là phong cách ngôn ngữ hành chính - công vụ.
- Làm sáng tỏ lý thuyết về xưng hô trong môi trường giao tiếp chuyên biệt: phân định rõ các dạng biểu thức ngôn ngữ xưng và hô, mô hình hóa vị trí xuất hiện và xác lập các quy chuẩn về tính tương thích cũng như tính quy phạm của phép lịch sự trong văn bản hành chính.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn ngữ liệu và kết quả miêu tả có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu tiếng Việt và giảng dạy tiếng Việt thực hành, văn bản học và kỹ thuật soạn thảo văn bản trong các trường đại học, cao đẳng.
- Cung cấp cơ sở khoa học hỗ trợ các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân trong việc chuẩn hóa ngôn từ và cách thức sử dụng biểu thức xưng hô khi soạn thảo và ban hành văn bản hành chính tiếng Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi 543 văn bản hành chính ban hành trong giai đoạn 2009–2019 có sự xuất hiện đồng thời của cả biểu thức xưng và biểu thức hô. Do tập trung vào mối quan hệ tương tác giữa hai vai xưng - hô, luận án chưa đi sâu xử lý định lượng toàn diện nhóm văn bản hành chính chỉ có biểu thức xưng (như các văn bản luật, pháp lệnh, các loại biểu mẫu chứng chỉ, thẻ cá nhân).
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài bao gồm việc mở rộng khảo sát các biến thể xưng hô trong hệ thống văn bản điện tử và các hình thức giao tiếp hành chính phi văn bản trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Việt ngữ học và Phong cách học: Tham khảo khung lý thuyết phân tích diễn ngôn hành chính, phương pháp khảo sát và mô hình phân loại biểu thức xưng hô.
- Giảng viên và người học ngành Quản trị văn phòng, Hành chính học, Luật học: Sử dụng nội dung phân tích tính quy chuẩn và tính tương thích vị thế giao tiếp trong Chương 2 và Chương 3 để phục vụ giảng dạy và thực hành kỹ thuật soạn thảo văn bản.
- Cán bộ, công chức, viên chức và chuyên viên phụ trách công tác tham mưu, soạn thảo và ban hành văn bản tại các cơ quan, tổ chức: Tham khảo các khuôn mẫu biểu thức định danh chuẩn mực để tránh sai sót về thể thức và đảm bảo tính quan phương trong giao tiếp văn bản.
Câu hỏi thường gặp
1. Vai xưng trong văn bản hành chính được xác định như thế nào và có điểm gì khác biệt so với người trực tiếp soạn thảo văn bản?
Trong văn bản hành chính, vai xưng thuộc về chủ thể ban hành văn bản, tức cá nhân có thẩm quyền hoặc người đại diện theo pháp luật ký tên ở cuối văn bản để chịu trách nhiệm pháp lý. Điểm khác biệt căn bản là vai xưng không thuộc về người trực tiếp biên soạn hay đánh máy văn bản (như chuyên viên, thư ký hay cán bộ văn thư).
2. Dưới góc độ xưng hô, văn bản hành chính tiếng Việt được phân chia thành những loại nào?
Luận án phân chia thành hai loại lớn:
- Nhóm văn bản chỉ có biểu thức xưng mà không có biểu thức hô (Hiến pháp, luật, lệnh, quy chế, nội quy, giấy chứng nhận, thẻ,...).
- Nhóm văn bản có cả biểu thức xưng và biểu thức hô, bao gồm hai tiểu loại: tiểu loại có vai xưng và vai hô tách bạch (nghị định, quyết định, công văn, tờ trình,...) và tiểu loại có hai vai xưng - hô gộp lại (các dạng hợp đồng).
3. Ngữ liệu thực tế được luận án khảo sát bao gồm những loại văn bản nào và có quy mô ra sao?
Ngữ liệu khảo sát gồm 543 văn bản hành chính có đủ biểu thức xưng và hô ban hành từ năm 2009 đến năm 2019, bao gồm: 98 văn bản quy phạm pháp luật (18,05%), 76 văn bản cá biệt (14,00%) và 369 văn bản hành chính thông thường (67,95%), ghi nhận tổng cộng 1.375 lượt xưng và 1.347 lượt hô.
4. Luận án xác định có bao nhiêu dạng biểu thức ngôn ngữ dùng để xưng trong văn bản hành chính?
Luận án xác định 7 dạng biểu thức ngôn ngữ để xưng:
- Đại từ nhân xưng ("tôi", "chúng tôi"; "em", "chúng em");
- Danh từ chỉ chức vụ;
- Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức;
- Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên riêng;
- Biểu thức phối hợp tên riêng với từ chỉ chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức;
- Biểu thức phối hợp học hàm, học vị kết hợp với tên riêng, chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức;
- Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
5. Phép lịch sự trong xưng hô ở văn bản hành chính tiếng Việt được luận giải dựa trên cơ sở lý thuyết nào?
Phép lịch sự trong luận án được luận giải dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết lịch sự chiến lược phương Tây (Brown & Levinson, B. Fraser, G. Leech về giữ gìn thể diện, rào đón) và lý thuyết lịch sự chuẩn mực phương Đông (Gu, Matsumoto về "Lễ", trật tự vị thế và bổn phận xã hội), thể hiện qua việc tuân thủ thể thức pháp lý và sử dụng các khuôn ngôn ngữ nghi thức hành chính.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Văn Tuyên là công trình nghiên cứu hệ thống về hiện tượng xưng hô trong phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ. Dựa trên khung lý thuyết giao tiếp, dụng học và ngữ liệu khảo sát gồm 543 văn bản ban hành giai đoạn 2009–2019, tác giả đã phân loại, miêu tả chi tiết các biểu thức xưng và hô, đồng thời xác lập các quy tắc tương thích vị thế và chuẩn mực lịch sự hành chính. Công trình có giá trị đóng góp về mặt lý luận ngôn ngữ học giao tiếp tiếng Việt và mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác chuẩn hóa kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính.