Luận án tiến sĩ về xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

Khám phá luận án tiến sĩ về xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt, phân tích ngữ nghĩa và vai trò trong giao tiếp chính thức.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

169
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp mới của luận án

1.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ xưng hô

1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2. CHƯƠNG 2: XƯNG TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT

2.1. Khái niệm xưng trong văn bản hành chính

2.2. Các biểu thức ngôn ngữ để xưng trong văn bản hành chính

2.2.1. Đại từ nhân xưng

2.2.2. Danh từ chỉ chức vụ

2.2.3. Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức

2.2.4. Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên riêng

2.2.5. Biểu thức phối hợp tên riêng với từ chỉ chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức

2.2.6. Biểu thức phối hợp học hàm, học vị kết hợp với tên riêng, chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức

2.2.7. Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên cơ quan, đơn vị, tổ chức

2.3. Vị trí của biểu thức ngôn ngữ để xưng trong văn bản hành chính

2.3.1. Vị trí đầu văn bản

2.3.2. Vị trí kết thúc văn bản

2.3.3. Vị trí giữa văn bản

2.4. Xưng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp

2.4.1. Vị thế ngang bằng

2.4.2. Vị thế của vai trên đối với vai dưới

2.4.3. Vị thế của vai dưới đối với vai trên

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: HÔ TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH TIẾNG VIỆT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUAN HỆ GIỮA XƯNG VÀ HÔ Ở VBHC TIẾNG VIỆT

3.1. Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

3.2. Khái niệm hô trong văn bản hành chính

3.3. Các biểu thức ngôn ngữ để hô trong văn bản hành chính

3.4. Vị trí của biểu thức ngôn ngữ để hô trong văn bản hành chính

3.5. Hô trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp

3.6. Một số vấn đề trong quan hệ giữa xưng và hô ở văn bản hành chính tiếng Việt

3.6.1. Tương thích giữa xưng và hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

3.6.2. Lịch sự trong xưng hô ở văn bản hành chính tiếng Việt

3.7. Tiểu kết chương 3

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng xưng hô không chỉ là một yếu tố ngôn ngữ mà còn phản ánh văn hóa và mối quan hệ xã hội. Trong bối cảnh nghiên cứu ngôn ngữ, xưng hô được xem như một phần quan trọng trong việc xác định vị thế giao tiếp giữa các cá nhân. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng xưng hô trong văn bản hành chính có những đặc điểm riêng biệt, khác với các loại văn bản khác. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu chuyên sâu về xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.

1.1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ xưng hô

Trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa xưng hô và văn hóa. Các nghiên cứu này cho thấy rằng xưng hô không chỉ đơn thuần là việc sử dụng từ ngữ mà còn liên quan đến các yếu tố xã hội và văn hóa. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về xưng hô cũng đã chỉ ra rằng xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Các nhà nghiên cứu đã phân loại xưng hô thành nhiều nhóm khác nhau, từ đại từ nhân xưng đến danh từ chỉ chức vụ. Điều này cho thấy sự phong phú trong cách sử dụng xưng hô trong giao tiếp hàng ngày và trong văn bản hành chính.

II. Xưng trong văn bản hành chính tiếng Việt

Chương này tập trung vào khái niệm xưng trong văn bản hành chính tiếng Việt. Xưng được định nghĩa là việc sử dụng các biểu thức ngôn ngữ để xác định vai trò và vị thế của người nói trong giao tiếp. Các biểu thức ngôn ngữ để xưng bao gồm đại từ nhân xưng, danh từ chỉ chức vụ và các biểu thức định danh khác. Vị trí của các biểu thức này trong văn bản hành chính cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp và sự lịch sự trong văn bản. Nghiên cứu cho thấy rằng xưng không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn từ ngữ mà còn phản ánh mối quan hệ xã hội và văn hóa giữa các cá nhân trong giao tiếp.

2.1. Các biểu thức ngôn ngữ để xưng trong văn bản hành chính

Các biểu thức ngôn ngữ để xưng trong văn bản hành chính rất đa dạng. Chúng bao gồm đại từ nhân xưng, danh từ chỉ chức vụ và các biểu thức phối hợp khác. Việc lựa chọn biểu thức xưng phù hợp không chỉ giúp xác định rõ ràng vai trò của người nói mà còn thể hiện sự tôn trọng và lịch sự trong giao tiếp. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng đúng các biểu thức này có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cách thức giao tiếp và nhận thức của người nhận văn bản. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh văn bản hành chính, nơi mà sự chính xác và rõ ràng là rất cần thiết.

III. Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

Chương này nghiên cứu về khái niệm trong văn bản hành chính tiếng Việt. được hiểu là việc sử dụng các biểu thức ngôn ngữ để gọi tên hoặc thu hút sự chú ý của người khác trong giao tiếp. Các biểu thức ngôn ngữ để trong văn bản hành chính thường có tính chất trang trọng và chính thức. Nghiên cứu cho thấy rằng có thể ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp và sự tiếp nhận thông tin của người nhận văn bản. Sự tương thích giữa xưng cũng là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến tính lịch sự và hiệu quả của giao tiếp.

3.1. Các biểu thức ngôn ngữ để hô trong văn bản hành chính

Các biểu thức ngôn ngữ để trong văn bản hành chính thường được sử dụng để thu hút sự chú ý của người nhận. Chúng bao gồm các danh từ chỉ chức vụ, tên riêng và các biểu thức khác. Việc lựa chọn biểu thức phù hợp không chỉ giúp xác định rõ ràng vai trò của người nói mà còn thể hiện sự tôn trọng và lịch sự trong giao tiếp. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng đúng các biểu thức này có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cách thức giao tiếp và nhận thức của người nhận văn bản. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh văn bản hành chính, nơi mà sự chính xác và rõ ràng là rất cần thiết.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chương: luan an 5 Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Trong chương này, chúng tôi trình bày hai nội dung lớn: Thứ nhất, điểm lại những công trình đã được nghiên cứu liên quan đến đề tài, cụ thể là những nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, về VBHC và về xưng hô trong VBHC tiếng Việt. Thứ hai, chúng tôi tập trung trình bày các vấn đề lí luận về xưng hô trong giao tiếp như: khái niệm xưng hô, chức năng của xưng hô, các nhân tố chi phối việc xưng hô, các phương tiện xưng hô trong giao tiếp, lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu những vấn đề lí luận về VBHC như: khái niệm, đặc điểm, chức năng của VBHC, các loại VBHC tiếng Việt. Chƣơng 2: Xƣng trong văn bản hành chính tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi tập trung vào các vấn đề cụ thể như: khái niệm xƣng trong VBHC, các BTNN để xưng trong V HC, vị trí của BTNN dùng để xưng trong V HC, xƣng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp trong VBHC.

Những nghiên cứu ở chương này s được minh họa qua việc xử lí ngữ liệu với các con số định lượng cụ thể. Chƣơng 3: Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt và một số vấn đề trong quan hệ giữa xƣng và hô trong văn bản hành chính Trong chương này, luận án tập trung vào việc xác định khái niệm hô trong VBHC, các BTNN để hô trong VBHC, vị trí của các BTNN dùng để hô trong VBHC, hô trong quan hệ với vị thế giao tiếp trong VBHC. So với xƣng thì BTH trong VBHC có tần suất thấp hơn, nên ở chương này, luận án phối hợp để trình bày thêm một số vấn đề trong quan hệ giữa xƣng và hô trong V HC như: tương thích và lịch sự trong xưng hô của VBHC. Chương 3 của luận án cũng được minh họa bằng các số liệu thống kê cụ thể qua việc khảo sát và phân tích ngữ liệu.

luan an 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ xƣng hô 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo tìm hiểu của chúng tôi, khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ trên thế giới đã theo các hướng nghiên cứu sau: Trước hết là nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ - văn hóa và ngôn ngữ- nhân chủng học, với những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: W.

Trong công trình nghiên cứu về các mối quan hệ trong gia đình, thân tộc và ngoài xã hội các tác giả đã bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng và những từ ngữ được dùng để xưng hô trong các mối quan hệ thân tộc như: Grandmother, grandfather, uncle, father, mother, sister, brother. Đáng chú ý, các tác giả đã cho rằng các từ thân tộc không mang tính chất về quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính xã hội. Do đó, mỗi cá nhân không được xếp vào các phạm trù thân thích nào đó theo quan hệ huyết thống của chúng. Vì chúng là các thành viên trong những nhóm xã hội nhất định, được quy định bởi hôn nhân.

Tuy nhiên, có thể thấy, những nghiên cứu trên cũng chỉ mới là bước đầu. Kế tiếp là phải kể đến các quan điểm của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cấu trúc như: M.Emeneau, trong công trình nổi tiếng Studies in Vietnamese Grammar [dẫn theo 68, tr. 9], đã quan tâm nhiều về đại từ trong tiếng Việt, đặc biệt là tập trung bàn về đại từ xưng hô và nhóm TXH lâm thời có nguồn gốc danh từ. Qua đó, ông đã nhận ra sự hạn chế của các đại từ nhân xưng đích thực và vai trò quan trọng của các TXH lâm thời mà ông cho là “Đại từ cương vị”.C Thompson cũng đã có những nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như: A Vietnamese Grammar và A Vietnamese Reference Grammar [dẫn theo luan an 7 68.

Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập đến các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt như: ta, tôi, họ, hắn. cùng các danh từ thân tộc. Đối với danh từ thân tộc, ông nhận thấy giữa danh từ chung và danh từ riêng có hai mặt đối lập là thay đổi và không thay đổi, đồng nhất và không đồng nhất.C Thompson nhận thấy rằng: “Số lượng các đại từ xưng hô thực thụ là quá ít và đại từ tôi, ta với thái độ xưng hô thể hiện sự kính trọng hay thái độ bề trên, ở ngôi thứ nhất không có đại từ tương ứng với nó ở ngôi thứ hai (chỉ người nghe) và ngôi thứ ba (chỉ người được nói đến), do đó phải thay bằng các từ thuộc từ loại hoặc các danh từ” [dẫn theo 68, tr. Có thể nhận thấy, với khuynh hướng cấu trúc, các tác giả M.Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt, đó là các “đại từ nhân xưng” (personal pronouns), đồng thời đã phân chia đại từ nhân xưng thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu.

Gần với đề tài luận án là hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng của tác giả Lương Văn Hy (1990) với công trình nghiên cứu về Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học - hệ thống quy chiếu về ngƣời trong tiếng Việt [123] đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng hô - cái mà ông gọi là “hệ thống quy chiếu về người” một cách đồng bộ trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đồng thời ông cũng cho rằng, hệ thống quy chiếu ngôi tiếng Việt bao gồm ba tiểu loại ngữ pháp: đại từ nhân xưng, danh từ chung (danh từ thân tộc và danh từ cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau trên hai phương diện là thay đổi/ không thay đổi, đồng nhất/không đồng nhất,. Tuy tác giả đã đi sâu vào phân tích và chỉ ra chức năng thay thế của danh từ chung và đại từ nhân xưng, nhưng quan điểm của ông còn cứng nhắc khi xem xét về vấn đề từ loại và miêu tả các TXH thân tộc còn sơ lược. Nhưng sự đóng góp của ông trong việc nghiên cứu TXH tiếng Việt và hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về TXH là đáng ghi nhận.

Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nêu trên, khi nghiên cứu về xưng hô trong V HC tiếng Việt chúng tôi đã tham khảo về cách luan an 8 phân chia và sử dụng về đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc và các danh từ khác làm phương tiện xưng hô của các nhà nghiên cứu nước ngoài để áp dụng những vấn đề thực tiễn vào cơ sở lí luận của luận án. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Ở Việt Nam, từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu. Các công trình ngữ pháp tiếng Việt nghiên cứu về đại từ thường phân xuất thành lớp đại từ xưng hô. Lớp từ này trong tiếng Việt tuy không biến đổi hình thái, nhưng qua cách dùng trong giao tiếp thường được phân biệt theo ba ngôi và theo số : ngôi 1 (số ít) và ngôi 1 (số nhiều), ngôi 2 (số ít) và ngôi 2 (số nhiều), ngôi 3 (số ít) và ngôi 3 (số nhiều).

Ngoài các đại từ xưng hô, tiếng Việt còn dùng danh từ thân tộc, tên riêng, từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ. Các tác giả Nguyễn Văn Chiến trong Lớp TXH tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối với các ngôn ngữ khác loại hình [16] hay Nguyễn Phú Phong trong Đại từ nhân xƣng tiếng Việt [69] trong các nghiên cứu của mình đã dành cho lớp TXH tiếng Việt một vị trí thích đáng. Một số công trình nghiên cứu về đặc điểm xưng hô trong ngôn ngữ của một dân tộc, hoặc so sánh đối chiếu xưng hô trong hai ngôn ngữ với nhau. Các luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Thưởng: Các cách xƣng hô trong tiếng Nùng bảo vệ năm 1998 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội [91]; Phạm Ngọc Hàm: Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xƣng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt bảo vệ năm 2004 tại Viện Ngôn ngữ học [36]; Lã Thị Thanh Mai: Đặc điểm xƣng hô của ngƣời Hàn và ngƣời Việt bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam [61]; bài viết Mấy nhận xét về TXH tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc của Nguyễn Minh Thuyết và Kim Young Soo trong sách Tƣơng đồng văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc, Nxb Hà Nội, 1996 [89]; bài Một số đặc điểm văn hóa Nhật - Việt qua việc khảo sát hệ thống TXH của Hoàng Anh Thi trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1995 [86].

thuộc loại này. Những công trình này chỉ ra sự đồng nhất và khác biệt về hệ thống TXH và đặc điểm trong cách xưng hô của các dân tộc. Những đặc điểm đó gắn liền với các đặc điểm văn hóa dân tộc. luan an 9 Có những công trình nghiên cứu về xưng hô và TXH trong nội bộ tiếng Việt, nhưng quan tâm đến sự khác biệt trong xưng hô giữa các phương ngữ: luận án tiến sĩ của Lê Thanh Kim: TXH và cách xƣng hô trong các phƣơng ngữ tiếng Việt, bảo vệ năm 2002 tại Viện Ngôn ngữ học [56.

Công trình này cho thấy các phương ngữ của tiếng Việt có những khác biệt về hệ thống TXH và cách xưng hô khi giao tiếp trong gia đình, trong quan hệ vợ chồng, anh em, trong dòng họ thân tộc và rộng ra trong xã hội. Nhiều công trình dành cho TXH và cách xưng hô của người Việt trong các phạm vi và lĩnh vực giao tiếp khác nhau. Sự liên thông và sự khác biệt giữa xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội của người Việt đã được luận án tiến sĩ của Bùi Minh Yến: Từ xƣng hô trong gia đình đến xƣng hô ngoài xã hội của ngƣời Việt bảo vệ năm 2001 tại Viện Ngôn ngữ học [112] chú ý đến. Có những lĩnh vực hẹp hơn trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt đã được chú ý đến về mặt TXH như bài viết TXH có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt của Trương Thị Diễm [20] hoặc Xƣng và gọi trong hoạt động hành chính ở một xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ; tôn ti và bình đẳng [53].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt

Bài viết này trình bày về luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Tuyên, được hướng dẫn bởi GS. Bùi Minh Toán tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Luận án này tập trung vào việc nghiên cứu xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt, một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

Bài viết này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách sử dụng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt, bao gồm cả các yếu tố lịch sử, văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng xưng hô. Luận án này cũng đưa ra một số giải pháp để cải thiện việc sử dụng xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Luận Văn: Thủ Tục Hành Chính Theo Cơ Chế Một Cửa & Một Cửa Liên Thông Tại Ủy Ban Nhân Dân Huyện Tỉnh Cao Bằng - Bài viết này trình bày về việc áp dụng cơ chế một cửa và một cửa liên thông trong thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân huyện Cao Bằng.

Luận văn: Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Trung tâm Hành chính công tỉnh Thừa Thiên Huế - Bài viết này trình bày về việc áp dụng thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Trung tâm Hành chính công tỉnh Thừa Thiên Huế.

Luận Văn: Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Thực Hiện Thủ Tục Hành Chính Tại Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh - Bài viết này trình bày về việc áp dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính tại Bảo hiểm Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả các bài viết này đều có liên quan đến chủ đề thủ tục hành chính và quản lý công, và đều được viết bởi các tác giả có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.