MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển nền kinh tế của đất nước. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bên cạnh sự lớn mạnh của ngành chăn nuôi ở nước ta thì ngành trồng trọt cũng ngày càng khẳng định được vị trí của mình từng bước vươn lên cải tiến cách thức sản xuất, nâng cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Trồng trọt không chỉ cung cấp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu tới các nước trên thế giới, điển hình là các mặt hàng như lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su và một trong những mặt hàng không thể không nhắc tới đó là chè. Chè là cây công nghiệp thế mạnh ước đã có ở nước ta từ rất lâu đời, với điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển, cây chè ở Việt Nam luôn cho năng xuất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế cao, là một cây trồng thế mạnh trong xuất khẩu cũng như tạo việc làm thu nhập cho hàng nghìn người lao động. Nước chè là thức uống tốt, rẻ tiền hơn cà phê, ca cao, có tác dụng giải khát, chống lạnh, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa… Chính vì các đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành một sản phẩm đồ uống trên toàn thế giới. Hiện nay, trên thế giới có 58 nước trồng chè, 115 nước sử dụng chè làm đồ uống nhu cầu tiêu thụ chè trên thế giới ngày càng tăng.
Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất ngày càng phát triển. Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước với tổng diện tích chè hơn 18.500 ha, 9 huyện thành thị đều có sản xuất chè. Riêng huyện Đại Từ nằm ở vùng tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, là vùng đất mưa thuận gió hòa, đất đai màu mỡ, phù hợp với nhiều loại cây trồng đặc biệt là cây chè, toàn huyện có 30/31 xã, thị trấn trồng chè. Đại Từ tạo dựng được cả một vùng chè lớn nhất tỉnh với diện tích đến hết năm 2013 là trên 5.380 ha n 2 chiếm 30% tổng diện tích chè của toàn tỉnh, đứng thứ 2 so với các huyện trong cả nước (sau huyện Bảo Lâm-tỉnh Lâm Đồng) [1].
An Khánh là một xã nằm ở cực đông của huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, ngành sản xuất chè cành là cây trồng mang lại nguồn thu nhập tương đối ổn định, cũng có thể nói chè cành là nguồn thu nhập chính của người dân xã An Khánh- Đại Từ, tuy nhiên người dân vẫn gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và nhất là khó khăn trong quá trình tiêu thụ. Trong nền kinh tế thị trường, với xu hướng hội nhập, người sản xuất không chỉ quan tâm đến thị trường tiêu dùng trong nước mà còn hướng tới thị trường xuất khẩu. Từ đó, hình thành nên các chuỗi trong các ngành hàng. Riêng ngành sản xuất chè cành, các chuỗi đã bắt đầu được hình thành nhưng còn đơn giản, có ít các tác nhân tham gia.
Sự liên kết và trách nhiệm của các tác nhân trong kênh tiêu thụ chưa hình thành nên khái niệm về chuỗi hàng hóa dịch vụ còn mang tính lý thuyết. Mặt khác, sản xuất chè hiện nay còn manh mún, đơn lẻ và tự phát, thiếu các mối liên kết gần gũi thân thiện giữa những người sản xuất với nhà cung ứng các hàng hóa dịch vụ đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm. Hay nói cách khác, mối liên kết, sự tương tác nhiều mặt giữa các tác nhân tham gia và trách nhiệm của họ trong chuỗi cung ứng các hàng hóa dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất còn yếu. Đây là hạn chế rất lớn tới việc giảm chi phí sản xuất, tối đa hóa lợi ích kinh tế của từng tác nhân trong chuỗi cũng như khó khăn trong phát triển mở rộng quy mô, tăng diện tích chè.
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị đang mở ra một hướng nghiên cứu mới cho tác nhân tham gia trong chuỗi. Đặc biệt với những hộ nông dân – người được coi là đối tượng luôn thiếu những thông tin trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy đã có lúc người dân gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Đã có nhiều quan điểm cho rằng phát triển nông thôn chỉ đơn thuần là việc nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng mà quên mất một điều quan trọng rằng những sản phẩm đó tiêu thụ ở đâu? Thị trường có ổn định không? Họ sẽ được lợi gì khi tham gia vào quá trình đó?.
Hàng loạt các câu hỏi đã được đặt ra buộc chúng ta phải có cái nhìn đúng hơn trong công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn. Xuất phát từ n 3 những lí do trên, tôi xin chọn đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành sản xuất chè cành trên địa bàn xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Với mong muốn cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các hộ nông dân cũng như các tác nhân trong chuỗi giá trị đó để có thể phát triển ngành sản xuất chè cành, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân trong quá trình sản xuất. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành sản xuất chè cành tại xã An Khánh huyện Đại Từ, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết một số vấn đề tác nhân nông dân sản xuất chè cành đang gặp phải. Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa được lý luận và thực tiễn về phân tích chuỗi giá trị nói chung và chuỗi giá trị chè cành nói riêng. Lập sơ đồ chuỗi giá trị. Đánh giá được thực trạng hoạt động và mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị sản xuất chè cành trong thời gian qua.
Phát hiện được những tồn tại và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị chè cành. Đề xuất một số giải pháp nhằm hình thành, hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị ngành sản xuất chè cành trong những năm tới. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn.
Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo. Giúp hiểu thêm về tình hình sản xuất chè cành trên địa bàn xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế cho các tác nhân trong chuỗi giá trị. Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu.
n 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị 2. Những khái niệm cơ bản a. Chuỗi sản xuất – cung ứng Thuật ngữ chuỗi cung ứng sử dụng để mô tả các kênh phân phối hoặc kênh thị trường qua đó sản phẩm được chuyển tới tay người tiêu dùng.
Người nông dân ít khi bán trực tiếp sản phẩm của mình cho người tiêu dùng. Sau khi rời khỏi trang trại, các sản phẩm thường được chuyển qua rất nhiều đại lý khác nhau (qua các kênh thị trường khác nhau) trước khi đến với người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi sản xuất hoặc thị trường đề cập tới hệ thống bao gồm các tác nhân và tổ chức, quan hệ, chức năng và sản phẩm, tiền và dòng giá trị tạo nên sự luân chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng. Một chuỗi sản xuất được tạo nên từ các mối liên kết nội bộ là sản xuất nói chung, sau thu hoạch và chế biến, tiếp thị và tiêu dùng [1].
Chuỗi giá trị Theo Kaplinsky và Morris (2001): Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi [2]. Trong chuỗi giá trị có “chức năng” của chuỗi và cũng được gọi là các “khâu” trong chuỗi. Các khâu chúng ta có thể mô tả cụ thể bằng các “hoạt động” để thể hiện rõ công việc của các khâu.
Bên cạnh các chức năng của chuỗi giá trị chúng ta có các “tác nhân”. Tác nhân là những người thực hiện các chức năng trong chuỗi, ví dụ như các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, người chăn nuôi, người vận chuyển hàng hóa…Bên cạnh các tác nhân trong chuỗi giá trị chúng ta còn có các “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị”. n 5 Nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi giá trị là giúp phát triển chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp chuỗi giá trị [4]. Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ…) để biến một nguyên liệu thô thành phẩm được bán lẻ. Chuỗi sản xuất rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô. Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng [2]. Theo nghĩa hẹp: chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất.
Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ xung giá trị cho sản phẩm cuối cùng [2]. Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị bao hàm cả tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.