Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Rudi lính đen (Hermetia illucens) Rudi lính đen (Black Soldier Fly), tên khoa học là Hermetia illucens, thuộc họ Stratiomyidae tộc Hermetia, loài 77. 7//cens được tìm thay trên toàn thế giới, nhưng nó được cho là có nguồn gốc từ châu Mỹ. Rudi linh den (Black Soldier Fly).
Nó thường được tim thấy ở các vùng nhiệt đới va ôn đới trên khắp thế giới. Mặc dù thích nghi chủ yếu ở những vùng này, nó có thể chịu được nhiệt độ cực cao ngoại trừ khi đẻ trứng. Chúng thường được coi là một loai côn trùng có ích và không gây hại. Ruồi trưởng thành không có phần miệng hoặc cơ quan tiêu hóa; do đó, chúng không căn hoặc chích và không kiêm ăn trong thời gian tôn tại ngắn ngủi của nó.
Vòng đời của Ruồi lính đen Vòng đời của rudi lính đen kéo dài khoảng hơn 1 tháng, bắt đầu từ trứng, au trùng, nhộng, cuối cùng lột xác thành ruồi lính đen trưởng thành. là vòng đời được nuôi và nghiên cứu trực tiếp tại khu thực nghiệm Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường, trứng sẽ được nở từ 2 — 4 ngày, chúng sẽ được cung cấp dinh dưỡng trong suốt quá trình phát triển. Từ ngày 1 đến khoảng ngày thứ 18 là giai đoạn tiền nhộng, sau đó 7 ngày chúng phát triển thành nhộng khi đó vỏ bên ngoài của chúng có màu đen. Từ nhộng phát triển thành Rudi trưởng thành mat khoảng 7 ngày, khi chúng đã tưởng thành sẽ giao phối trong giai đoạn này chúng không cần thức ăn và sau 2 ngày chúng đẻ trứng, tiếp tục vòng đời sinh trưởng.
2 -3 ngày Trứng (500 — 1000 con) Giao phối Tiền nhộng 2 ngày 7 ngày Rudi BSF 7 ngay Hình 1. Vong đời của Hermetia illucens. Với điều kiện thực hiện thí nghiệm, Ruôi lính đen trong quá trình thí nghiệm trai qua 5 giai đoạn chính trong vòng đời: trứng (từ 5 - I0NT, au trùng (từ 10 — 14NT), tiền nhộng (từ 15 — 28NT), nhộng (từ 29 — 40NT) va con trưởng thành. Giai đoạn dài nhất trong vòng đời của RLĐ là ở giai đoạn ấu trùng và nhộng, trong khi giai đoạn trứng và trưởng thành lại ngắn và tùy theo nguồn thức ăn mà các giai đoạn vòng đời khác nhau.
Trung bình, trứng nở trong bốn ngày và thay đôi theo mùa, vùng và nhiệt độ. Có khoảng sáu ngày tuổi trong giai đoạn au trung. Au trùng nở ra từ trứng bắt đầu ăn ngay lập tức các loại chất hữu cơ khác nhau, với mức tiêu thụ chất hữu cơ tăng đáng ké trong giai đoạn ấu trùng. Khi ấu trùng đạt đến ngày tuổi thứ 6, sẽ bắt đầu trai qua quá trình tạo hắc tố khiến lớp biểu bì có màu sẫm hơn dé dần trở thành nhộng.
Trong giai đoạn này, côn trùng làm rỗng đường tiêu hóa và ngừng ăn. Sau đó, au trùng di chuyên từ nguồn thức ăn đến các kẽ hở khô dé biến thành nhộng trong 7-10 ngày. Giai đoạn nhộng, chúng hạn chế di chuyền và không ăn trong ít nhất 8 ngày, kết thúc khi trưởng thành. Rudi trưởng thành không ăn gì ngoại trừ nước và dua vào chất béo dự trữ ở giai đoạn ấu trùng.
Theo Ferrarezi và ctv năm 2016, tổng chu kỳ của BSF là 45 ngày. Nó trải qua hai giai đoạn của cuộc đời trong giá thé nuôi cay là trứng (4 ngày) và giai đoạn ấu trùng (18 ngày). Chỉ khi chúng chuyền đổi từ giai đoạn tiền nhộng (14 ngày) sau 9 ngày là con trưởng thành. Con trưởng thành sống được khoảng hai tuần khi chỉ được cung cấp nước.
Thông thường con đực xuất hiện trước hai ngày so với con cái và giao phối diễn ra sau đó hai ngày. Rudi lính den là một loài côn trùng giao phối trong lúc bay, và do đó cần có những khu vực rộng rãi cho chuyển bay tự do của nó (Caruso và ctv, 2013). Chúng thường giao phối một lần và con cái sẽ đẻ một lứa trứng trong suốt cuộc đời của chúng, thường là hai ngày sau khi giao phối. Kết quả là trứng nở trong khoảng bốn ngày với au trùng cần khoảng hai tuần dé phát triển hoàn thiện (Tomberlin và ctv, 2002).
Giai đoạn tiền ấu trùng, giai đoạn sau của ấu trùng trước khi hình thành nhộng va chúng phân tán ra khỏi nguồn thức ăn dé tìm kiếm một nơi khô ráo và được bảo vệ dé tạo thành nhộng. Nhộng cũng cần khoảng hai tuần dé phát triển (Surendra, 2020). Ruồi trưởng thành tồn tại nhờ chất béo được lưu trữ trong giai đoạn au tring, sau đó, chúng không ăn gi ngoại trừ nước. Rudi lính đen trưởng thành có màu den, dài 15 - 20 mm với mau đen khói,chia thành ba phần riêng biệt là phần đầu, ngực và bụng.
Ruồi cái trưởng thành thường lớn hơn con đực và có đầu bụng màu đỏ trong khi con đực có đầu bụng màu đồng bạc và thường đẻ trứng ở gần hoặc trên nền hữu cơ 4m và chat thai 4m ướt và trong trường hợp không có môi trường như vậy, con cái không thé đẻ trứng. Trứng ruồi lính đen có hình bau dục và có kích thước xấp xi 1 mm (chiều dai). Trứng vừa mới đẻ có màu trắng sau đó chuyền sang màu vàng nhạt hoặc trắng kem. Âu trùng ruồi lính đen mới nở nhỏ, màu trắng và dải khoảng 1,8 mm.
Theo thời gian, màu sắc ấu trùng dan dan thay đổi từ sáng đến xám. Au trùng có hình ngư lôi và det ở mặt dưới. Đầu ấu trùng chứa phần miệng nhai trong khi phần lưng được phân đoạn chứa lỗ chân lông dé thở. Cơ thé ấu trùng được bao phủ bởi một làn da săn chắc, déo dai và độ déo dai phụ thuộc vào độ tuôi.
Ung dụng của Rudi lính đen Au trùng có thé sinh trưởng rất nhanh. Một ấu trùng có thé ăn 25 - 500 mg thức ăn tươi/ngày. Thức ăn của chúng khá đa dạng, đồng thời cũng là chất nền, từ phân bón chăn nuôi, đến các loại rác thải thực phẩm, phụ pham nông nghiệp. Một chu kỳ sinh trưởng của ấu trùng ruôi lính đen kéo dài 15 ngày tới khi đạt trọng lượng trung bình 0,25 g trong điều kiện nhiệt độ tối ưu (30 °C).
Au trùng này có tốc độ xử lý rác thải hữu cơ rất cao (trung bình gấp 5 lần trọng lượng cơ thê), thời gian xử lý dài (từ 2 - 3 tuần). Loài côn trùng này không chỉ có khả năng giảm ô nhiễm chất thải động thực vật lên đến 50% mà còn làm giảm số lượng vi khuẩn có hại (Makkar, 2014). Theo Xiu (2017), ấu trùng Rudi lính đen tái chế đinh dưỡng lãng phí bang cách chuyền đổi phân gia cam, phân lợn, phân bò sữa, phân người, chat thải thực vật, và chat thải thực phẩm của con người. Phân và chat thải cung cấp cho ruồi lính den khoảng 40% protein và 30% chất béo.
Sự tích tụ lipid thay đổi tùy theo các nguyên liệu cho ăn khác nhau. Chúng được sử dụng rộng rãi như một nguôn thức ăn tuyệt vời trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản. Là một nguyên liệu thô sinh học mới, cũng có thé được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học, làm cho công nghệ xử lý chất thải thành năng lượng trở nên khả thi hơn. Ruôi lính đen được sử dụng làm thức ăn cho chăn nuôi lon, gia cầm, thủy sản và xử lý chất thải trong nông nghiệp.
Ngoài ra, ấu trùng ruồi có thé cô đặc, sấy khô phối trộn với các chất dinh dưỡng của Ruồi lính đen khác làm thức ăn thay thế hoàn toàn bột cá trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, thủy sản. Các nguồn protein có nguồn gốc động vat, chang hạn như bột côn trùng, có thé được sử dụng làm nguồn thay thé cho thức ăn thủy sản (Kortner, 2020). Bột ấu trùng lính đen được coi là một trong những lựa chọn thay thế tốt nhất dé thay thế một phan hoặc hoàn toàn bột cá trong khẩu phan ăn của cá rô phi Nile ma không ảnh hưởng đến năng suất tăng trưởng, hiệu suất thức ăn và tình trạng sức khỏe (Tippayadara, 2021). Đây là loại mỗi sống rat thích hợp cho làm thức ăn cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản.
Chúng còn bổ sung canxi và phốt pho cho gia cầm như: gà, vịt, ngan, ngỗng,. giúp bổ sung chất dinh dưỡng, tăng sức đề kháng, kích thích ra lông tốt,. Ngoài ra, rudi lính den còn rất phù hợp với nhiều loại thú cưng khác như cá cảnh, chim cảnh, bò sát, kỳ tôm,. Chúng còn là loại côn trùng có ích, chúng có thể xử lí rác thải hữu cơ thành phân bón hữu ích cho cây cảnh.
Chính từ lợi ích nhiều mặt của ruôi lính đen, trên thị trường gần đây xuất hiện nhiều mô hình nuôi ruôi lính đen làm nguồn thức ăn hữu ích cho nhiều loại vật nuôi. Thành phần dinh dưỡng của au trùng RLĐ đã có nhiều công bố và phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng cũng như sé luong chat nền làm thức ăn. Au trùng chứa ham lượng protein thô dao động từ 38 — 63% va chất béo thô dao động từ 7 — 42%. Protein của ấu trùng ruồi lính đen chứa rất nhiều các axit amin thiết yếu và không thiết yếu, các khoáng chất như Ca nhiều hơn so với hầu hết các loại côn trùng khác từ 6,6 — 9,3% vật chất khô (Makkar và ctv, 2014; Paul và ctv, 2017).
Điều đó mang lại một lợi thé đáng ké về mặt dinh dưỡng trong việc cung cấp đầy đủ các khoáng chất và vitamin thiết yếu so với các loài côn trùng khác. Bên cạnh đó còn có nghiên cứu khác về hàm lượng dinh dưỡng của RLD, giá trị dinh dưỡng của ấu trùng RLĐ khô chứa tới 50% protein, 35% chất béo (có thành phần axit amin tương tự bột cá), 6% canxi, 1,2% Phốt pho, 1% Magié và 0,3% natri. Hàm lượng độ am, tro, protein, lipid, chất xơ lần lượt dao động trong khoảng 3,21 — 7,10%, 7,26 — 8,27%, 39,38-48,20%, 25,69—38,36%, 7,41%-9,96% va 6,45—7,88% (Nor và ctv, 2022). Theo Augusta va ctv (2017), thành phan axit béo BSF chu yếu là axit lauric (46,7 + 0,6%), tiếp theo là axit oleic (15,1 + 0,9%), axIt miristic (8,3 + 0,1%), palmitic (8,4 + 0,2%) và palmitoleic (7,6 + 0,4%) bên cạnh đó lipid chiếm 37% trọng lượng, protein chiếm 32% va chitin chiếm 9%.
Vì vậy, ấu trùng RLĐ được công nhận và sử dụng rộng rãi làm nguồn protein thay thế cho gia cam, lợn và một sô loài cá, tôm. Chitin va Chitosan 1. Cau trúc hóa học và nguồn gốc của chitin Chitin được cấu tạo từ các đơn vị N- acetyl-D-glucosamine (NADG) liên két với nhau bằng các liên kết B-1,4-glucozid. CH N-acetyl group I 2 Glucosamine =0 CH,OH CH,OH H | ao.
0 0 OH OH H h H H NA aa Oar CH CH, = at Hình 1. Cấu trúc hóa học phan tử chitin.