CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cá hồi Cá hồi có tên khoa học là Salmonidae là một họ cá vây tia, thuộc bộ Salmoniformes (bộ cá hồi). Trong thiên nhiên, cá hồi là một loài thủy sản xứ lạnh, được sinh đẻ trong môi trường nước ngọt nhưng hầu hết quãng đời còn lại chúng lại sống trong môi trường nước mặn, sau khi đã trưởng thành chúng trở về môi trường nước ngọt để duy trì nòi giống [50].
Cá hồi là nguồn cung cấp Omega-3 dồi dào cho con người. Omega-3 bao gồm EPA (axit eicosapentaenoic), DHA (axit docosahexaenoic) có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mô thần kinh, mô mắt đặc biệt cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đồng thời cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, viêm, trầm cảm và các bệnh mãn tính khác. Kết quả phân tích dinh dưỡng xác nhận cá hồi Scotland chứa hàm lượng EPA và DHA trung bình là 1,92 ± 0,47 g.100g -1, còn phi lê cá hồi Đại Tây Dương cung cấp 1,36 g.1: Thành phần EPA, DHA trong phụ phẩm cá hồi (g.100g-1) [47] EPA DHA EPA+DHA Đầu 0,86 1,29 2,15 Xương sống 0,56 0,89 1,45 Thành bụng 0,80 1,24 2,04 Thịt vụn 0,67 1,06 1,73 Nội tạng 0,88 1,37 2,25 Bên cạnh đó cá hồi còn chứa rất nhiều chất có lợi cho sức khỏe như các vitamin A, D, B; các nguyên tố vi chất thiết yếu như iốt, selen, sắt, kẽm, canxi, phốt pho, kali và giàu amino acid (bảng 1.2: Thành phần amino acid từ da cá hồi [53] mol/100 mol mol/100 mol Amino acid Amino acid amino axit amino axit Hydroxypoline 6,5 ± 0,4 Isoleucine 1,1 ± 0,4 Axit aspartic 5,6 ± 0.3 Leucine 2,1 ± 0,1 Threonine 2,0 ± 0,2 Tyrosine 0,2 ± 0,1 Serine 5,1 ± 0,2 Phenylalanine 1,2 ± 0,4 Axit glutamic 7,3 ± 0,5 Lysine 2,0 ± 0,1 Glycine 37,1 ± 1,0 Histidine 1,3 ± 0,6 Alanine 10,2 ± 0,9 Arginine 5,7 ± 0,2 Cysteine - Proline 9,7 ± 0,1 Valine 1,5 ± 0,5 Hydroxylysine 0,3 ± 0,1 Methionine 1,8 ± 0,6 Tryptophan - * Hiện trạng của cá hồi tại Việt Nam Hình 1.1: Cá hồi vân ở Việt Nam [50] Ở Việt Nam, cá hồi được ươm, nuôi ở Sapa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng), Lạng Sơn, Bắc Giang và một số địa phương khác. Theo “Quy hoạch phát triển cá nước lạnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước tính tổng sản lượng cá hồi đến năm 2015 đạt 1448 tấn, đến năm 2020, sản lượng nuôi đạt 2713 tấn đáp ứng 70-80% nhu cầu tiêu dùng.
Và tới năm 2030, sản 4 lượng cá nước lạnh đáp ứng 100% nhu cầu tiêu dùng trong nước và một số sản phẩm được xuất khẩu [50]. Tổng quan về Peptide có hoạt tính sinh học. Khái niệm chung về Peptide 2. Cấu tạo chung của Peptide Peptide là những protein thường có cấu trúc đoạn ngắn khoảng từ hai đến vài chục amino acid liên kết với nhau, có khối lượng phân tử thường dưới 10.
Chúng có thể được tổng hợp trong tự nhiên hoặc được hình thành do quá trình thủy phân protein. Mặc dù có cấu trúc nhỏ nhưng nhiều peptide có vai trò khá quan trọng trong hoạt động trao đổi chất của cơ thể [29]. Tính chất hóa học của peptide Peptide có tính chất hóa lý không khác nhiều so với amino acid vì đều chứa nhóm –NH2 và nhóm –COOH tự do. Sự sai khác chủ yếu là do R của gốc amino acid tham gia trong chuỗi peptide.
Chính sự khác nhau giữa các mạch bên R, khác về số lượng và loại amino acid trong peptide làm cho điểm đẳng điện, khối lượng cũng khác nhau [29]. Peptide tham gia các phản ứng đặc trưng của nhóm –NH2 và nhóm –COOH. - Tính lưỡng tính H2N-R-COOH + H+ H3N + -R-COOH H2N-R-COOH + OH- H 2N-R-COO- + H2O - Tạo phức chất với este H 2N-R-COOH + R-OH H2N-R-COOR+ H2O Sản phẩm tạo ra ở dạng muối, lấy sản phẩm cho tác dụng với ammoniac để tái tạo nhóm chức amin (-NH2). - Phản ứng màu đặc trưng Ngoài phản ứng của nhóm –NH2 và -COOH đầu tận cùng, các gốc R của peptide cũng cho những phản ứng màu đặc trưng của các amino acid tự do tương ứng.
Một trong những phản ứng màu đặc trưng nhất cho liên kết peptide đó là phản ứng Biure, phản ứng này không xảy ra với amino acid tự do. Trong môi trường kiềm 5 mạnh, liên kết peptide phản ứng với CuSO 4 tạo thành phức chất màu tím đỏ và có khả năng hấp thụ cực đại ở bước sóng 540 nm. Đây là phản ứng được sử dụng rộng rãi để định lượng protein [29]. Peptide mạch ngắn có hoạt tính sinh học.
Giới thiệu về peptide mạch ngắn có hoạt tính sinh học Nhưng trong 20 năm trở lại đây, xu hướng nghiên cứu về các loại peptide có nguồn gốc thực phẩm ngày càng được gia tăng, đặc biệt là các peptide từ các nguồn protein có trong sữa [39]. Từ năm 1950, các peptide sinh học từ nguồn thực phẩm đã được tìm ra bởi Mellander. Ông phát hiện ra rằng peptide có nguồn gốc từ casein từ sữa có thể làm tăng khả năng hấp thụ Vitamin D mà không ảnh hưởng tới sự vôi hóa xương ở trẻ em bị bệnh còi xương [33]. Các peptide có hoạt tính sinh học đã được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm khác nhau như sữa, thịt và thực vật, và các protein từ các nguồn này là những nguồn nguyên liệu có tiềm năng lớn để thu được các loại peptide có hoạt tính sinh học.
Tuy nhiên chỉ có một vài sản phẩm thực phẩm từ thịt hoặc thủy sản có thể thu được peptide có hoạt tính sinh học có tính thương mại [24]. Các peptide có hoạt tính sinh học thu được có nhiều chức năng sinh lý khác nhau như chống oxy hóa, chống vi khuẩn, làm tiền chất, chống huyết khối và điều hòa miễn dịch, trong đó thì hoạt tính chống cao huyết áp đã được nghiên cứu và công bố rộng rãi nhất, đặc biệt là các peptide có khả năng ức chế ACE [8]. Đã có một số sản phẩm thương mại chứa peptide có hoạt tính sinh học được đưa ra thị trường như Calpis (từ Nhật Bản) và Evolus (từ Phần Lan), cả 2 đều có nguồn gốc từ các protein lên men sữa. Các peptide mạch ngắn có hoạt tính sinh học hay các peptide chức năng ngoài các giá trị về dinh dưỡng còn bổ sung thêm các chức năng sinh lý cho cơ thể [54].
Các peptide chức năng không hoạt động hoặc ở dạng tiềm ẩn, được giải phóng ra khỏi chuỗi protein mẹ (thủy phân bằng enzyme, được giải phóng trong quá trình tiêu hóa và trong quá trình chế biến thực phẩm) để có thể chuyển sang dạng hoạt động và từ đó tạo ảnh hưởng sinh lý đến cơ thể [24]. 6 Có hai yếu tố quyết định quá trình giải phóng peptide chức năng: chuỗi protein ban đầu và độ đặc hiệu của một hay nhiều enzyme được sử dụng để tạo ra peptide [19]. Kích cỡ của các peptide chức năng thường là khoảng 2-20 amino acid, nhưng nhiều loại nhiều hơn 20 amino acid cũng đã được tìm thấy. Các peptide chức năng có thể được hấp thụ bởi ruột và được vận chuyển nguyên vẹn trong hệ tuần hoàn, tại đây chúng sẽ thể hiện tác dụng sinh lý, hoặc chúng có thể ở trong đường tiêu hoá để tạo ra các hiệu quả cục bộ [14].
Các peptide chức năng đã được phát hiện trong nhiều loại thực phẩm từ nguồn thực vật, nấm và vi tảo, sữa, pho mát, trứng, cá, thủy sản, thịt lợn và thịt bò, nguồn thực vật như lúa mì, gạo và hạt khoai lang, từ nấm như men bia [39]. Các chức năng sinh học có ảnh hưởng đến các hệ thống khác nhau trong cơ thể (xem hình 1. Hơn nữa, một số peptide chức năng có thể có đặc tính đa chức năng, trong đó các trình tự peptide cụ thể có thể có hai hoặc nhiều hoạt tính sinh học khác nhau [19]. Ảnh hưởng của peptide có hoạt tính sinh học đến cơ thể người 2.
Các hoạt tính sinh học peptide Các hoạt tính sinh học của peptide mạch ngắn được khái quát ở sơ đồ sau: 7 Hoạt tính sinh học của peptide Tạo phức khoáng Chống oxy hóa Kiểm soát thèm ăn Hạ huyết áp Kháng khuẩn Kháng khuẩn Hoạt tính opioid Hoạt tính liên Chống huyết khối Điều hòa miễn dịch Giảm đau và kháng opioid kết canxi Hạ colesterol Cytomodulatory Kháng nấm Hạ lipid Chống ăn mòn Hệ cơ quan của cơ thể được tác động Hệ tiêu hóa Hệ miễn dịch Hệ thần kinh Hệ cơ xương Hệ tim mạch Hình 1. Ảnh hưởng của peptide chức năng đến các hệ thống trên cơ thể 2. Hoạt tính chống oxy hóa Oxi hóa là phản ứng cần thiết cho quá trình hô hấp và trao đổi chất của mọi cơ thể sống, trong đó electron được chuyển từ chất khử sang chất oxi hóa có khả năng tạo thành các gốc tự do (O2-, -OH, H2O 2). Khi các gốc tự do được sản xuất vượt quá ngưỡng và không được loại bỏ, chúng có thể tấn công các phân tử gần nhất bằng cách lấy đi các electron dẫn đến một phân tử không có điện tử tấn công các phân tử khác, gây nên hàng loạt các phản ứng dây truyền tấn công lipit ở màng tế bào, protein, DNA.nhiều rối loạn sức khỏe nghiêm trọng [13].
Quá trình oxi hóa là nguyên nhân dẫn tới nhiều căn bệnh khác nhau. Hoạt tính chống oxi hoá của peptide có liên quan đến thành phần, cấu trúc, tính kỵ nước và khả năng trì hoãn, ngăn chặn các quá trình oxi hóa từ sự cho điện tử và sự ổn định của gốc tự do mà vẫn còn trong cấu trúc của chất chống oxi hóa hơn là trong phản ứng. Chúng có thể tìm thấy trong các nguồn động vật và thực vật, như sữa, sản phẩm từ sữa, trứng, cá, hàu, ngũ cốc (lúa, lúa mạch, kiều mạch, lúa mạch và bắp), đậu nành, hạt củ cải và các nguồn giàu protein khác [36, 45]. 8 Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh việc thủy phân các protein từ cá thu nhận được nhiều peptide có giá trị, trong đó một số peptide chống oxi hóa đã được tách chiết và xác định trình tự sau đó đánh giá hoạt tính chống oxi hóa qua khả năng quét gốc tự do DPPH.
Năm 2012, Amissah [5] đã đánh giá hoạt tính của các peptide được thủy phân từ da cá hồi cho thấy chúng có khả năng chống oxi hóa, kháng khuẩn và đặc tính ức chế protease. Kết quả hiệu quả loại bỏ các gốc tự do của sản phẩm peptide đạt 58,3% khi thủy phân bằng trypsin, đạt 26,3% khi thủy phân với α- chymotrypsin và khả năng loại bỏ gốc tự do đạt 55,9% khi thủy phân da cá hồi bằng papain.