CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Rong biển trên thế giới và Việt Nam Ngành rong có thể chia thành 3 ngành chính: Rong nâu (Phaeophyceae), rong đỏ (Rhodophyceae) và rong lục (Chlorophyceae). Theo các nghiên cứu mới nhất cho đến nay, các nhà khoa học đã định danh và phân loại được hơn 1.800 loài rong nâu, 1.500 loài rong lục và 6. Rong nâu đặc thù của loài này về kích thước có thể dài tương đương 20 m, một số có kích thước nhỏ cũng tầm 2-4 m, nhỏ hơn nữa ước lượng khoảng 30–60 cm [11, 12].
Rong nâu có phần thân cứng hơn một số loài khác vì vậy song biển ít bị tác động ảnh hưởng đối với loài này. Đặc biệt có loài có túi khí và nổi trên bề mặt để quang hợp. Dựa vào thành phần xanthophyll-fucoxanthin cùng với chlorophyll nên loài rong có màu nâu của nó. Rong nâu chiếm một sản lượng tương đối cao trên sinh khối khoảng 1800 loài, chúng thường bám trên đá trầm tích và sâu dưới biển và tập trung phần lớn ở bán cầu Bắc.
Rong nâu được phát hiện ở nhiều địa điểm trên thế giới, bao gồm Nhật Bản, Canada, Việt Nam, Hàn Quốc, Alaska, Ireland, Mỹ, Pháp, Ấn Độ,. Ban đầu, rong nâu được sử dụng để chiết tách iodine và kali, nhưng trong thời gian gần đây, chúng được khai thác rộng rãi để trích xuất alginate và fucoidan trên từng các loài rong khác nhau. Rong đỏ có thể được tìm thấy ở một số quốc gia, bao gồm Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Chile, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Brazil, Pháp, Trung Quốc, Hawaii, Ấn Độ, Anh và Mỹ. …về hình dạng cũng như kích thước nhỏ hơn rong nâu, chiều dài dưới 1m.
Được gọi là rong đỏ nhưng không hẳn loài này có màu đỏ mà còn có loài có màu tím màu nâu sẫm, màu trắng hồng nhạt. Rong đỏ phân bố ở nhiều nơi trên thế giới các vùng nước có nhiệt độ khác nhau: vùng nước lạnh như Chile , Nova Scotia (Canada) vùng nước mát như vùng duyên hải Maroc và Bồ Đào Nha, vùng nước nhiệt đới như Indonesia và Philippines. Rong lục có hình dạng và kích thước gần giống như rong đỏ. Rong lục sinh trưởng mạnh ở các vùng nước có độ sâu vừa.
Một số còn sinh trưởng ở 4 vùng nước biển và cả nước ngọt. Rong lục thường sinh trưởng mạnh ở những nơi có nhiệt độ cao như các vùng cận nhiệt đới và không phát triển mạnh ở những nơi có nhiệt độ thấp. Trên toàn thế giới ngành công nghiệp rong biển hiện đang cung cấp đa dạng các sản phẩm từ rong biển mang lại lợi nhuận hàng năm lên đến hơn 10 tỷ đô la Mỹ [1]. Hiện nay ngành công nghiệp về sản phẩm rong đang phất triển rất mạnh về quy mô khai thác và kinh doanh rong biển được phủ khắp các nước trên thế giới 83% lượng rong biển được con người tiêu thụ trực tiếp, phần còn lại được ứng dụng để sản xuất phân bón cây, thức ăn gia súc gia cầm, cung cấp nguyên vật liệu hứu ích cho ngành công nghệ sinh học, ứng dụng rộng rãi trong y khoa [2].
Vùng biển Việt Nam với diện tích trên 1 triệu km2 bao gồm quần đảo, đảo, đảo san hô, rạn san hô, đầm ngập mặn. Với diện tích mặt nước rộng được thiên nhiên ban tặng cho nguồn tài nguyên rất đa dạng và phong phú với bờ biển kéo dài 3.260 km theo hướng Bắc-Nam, miền duyên hải miền trung nước ta trải dài trong khu vực có khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới. Đây được coi là một thế mạnh về các nguồn tài nguyên vì vậy hệ sinh thái biển nhất là các loài rong ở Việt Nam chiếm sinh khối tương đối lớn: từ các đầm thủy triều rộng lớn, rừng ngập mặn đến các bãi đá, rạn san hô, cung cấp môi trường sống cho các loài sinh vật và đặc biệt là rong sinh trưởng và phát triển rất tốt. Các nghiên cứu mới đây được thống kê bởi Nguyễn Văn Tú và các cộng sự, trong năm 2013, Việt Nam có tổng cộng 827 loài rong: 412 loài rong đỏ (Rhodophyta), 180 loài rong lục (Chlorophyta), 147 loài rong nâu (Phaeophyceae) và 88 loài vi tảo (Cyanobacteria) [13].
Những con số thống kê cho thấy Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á, số loài rong biển ở Việt Nam gần bằng Philippines (1.011 loài) và cao hơn một số nước như: Đài Loan, Thái Lan và Malaysia (Hình 1. Số loài rong biển Việt Nam và các nước lân cận [13] Theo khảo sát ở Việt Nam có 20 tỉnh ven biển có số lượng rong tập trung nhiều, thì 12 tỉnh có trên 100 loài rong biển (2 tỉnh miền Bắc, 2 tỉnh miền Nam và 8 tỉnh miền Trung). Quần đảo Hoàng Sa có 60 loài và Trường Sa có 197 loài. Riêng tỉnh Khánh Hòa là tỉnh có số loài rong biển nhiều nhất nước với 418 loài, chiếm một nửa số loài rong cả nước.
Chính vì vậy đã có rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng quan tâm nghiên cứu như Dawson, Abbott, Tsutsui đã nhiều lần ghé thăm để nghiên cứu về rong. Bản đồ phân bố rong biển các tỉnh ven biển Việt Nam [13] 1. Rong Ulva papenfussii Ulvales là bộ rong phổ biến trên toàn thế giới. Ulvales có 2 chi lớn là Ulva và Enteromorpha.
Những năm trước đây tình hình nghiên cứu còn ở mức độ giới hạn và gặp nhiều khó khăn nên Ulvales chưa được nghiên cứu một cách hoàn hảo. Ulvales được các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Chile sử dụng khá phổ biến thường là những thực phẩm bổ sung về dinh dưỡng. Ở Nhật Bản, sau khi thu hái rong được sấy khô và nghiền thành “aonori”, sau đó chế biến cùng các nguyên liệu khác để cho ra rất nhiều thực phẩm bổ dưỡng [14]. 7 Ngoài ra các ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm, các rong này còn được ủ làm phân và làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất methane.
Trong các chi rong lục, phổ biến nhất là chi rong Ulva; về hình thái chúng có thể có dạng tế bào đơn giản hoặc phức tạp, các tế bào có cấu tạo dạng phiến hoặc dạng sợi, có thể chia nhánh hoặc không chia nhánh. Trong số đó, một số trường hợp rong chỉ là tế bào trần không có vỏ, trong khi đại đa số có vỏ như pectin hay cellulose. Hiện có hơn 140 loài trong chi Ulva, tuy nhiên chỉ khoảng 50 loài đã được định danh. Công dụng của rong thuộc chi Ulva chỉ thực sự được quan tâm khi các nhà khoa học phân tích hàm lượng các thành phần có trong rong các thành phần chất có hàm lượng lớn protein, vitamin, khoáng chất và carbohydrate.
Thành phần carbohydrate tổng của các loài rong phân tích bao gồm tinh bột, chất xơ không tan (cellulose, hemicellulose) và chất xơ tan trong nước (ulvan). Bảng tổng hợp thành phần hóa học một số loài rong thuộc chi Ulva được chỉ ra ở bảng 1. 1 Thành phần hóa học một số loại rong thuộc chi Ulva Loài rong Protein Lipid Tro Carbohydrate Tài liệu tham (%) (%) (%) (%) khảo Ulva clathrata 20-26 2,2-3,5 28-50 26-41 [14] Ulva lactuca 8,46 7,87 19,59 54,9 [15] Uva reticulata 9,8 1,9 13,2 68,9 [16] Ulva spp. Lịch sử rong Ulva papenfussii được Linnaeus phát hiện và định danh vào năm 1753 khi ông đi thu hoạch rong này trên vùng biển Đỏ của Ả Rập Saudi.
Rong Ulva papenfussii ở giai đoạn sinh trưởng trưởng thành có hình dạng lá phiến rộng, mềm, mọc xòe tròn, xếp thùy, mép nhăn gấp. Chúng có màu lục thẫm hoặc lục nhạt, cao khoảng 3-10 cm và rộng khoảng 4-10 cm, 8 trông giống như một cây rau diếp nên còn được gọi với cái tên là rau diếp biển. Lịch sử loài này được đánh giá dựa vào phả hệ của ngân hàng dữ liệu rong toàn cầu algaebase, rong Ulva papenfussii thuộc chi Ulva, họ Ulvaceae, bộ Uvales, lớp Ulvophyceae và ngành Chlorophyta. Rong Ulva papenfussii xuất hiện nhiều ở các nước khu vực Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương.
Rong Ulva papenfussii, về hình dáng loài này giống hầu hết các loài rong chi Ulva, thường mọc trên các nền đá cứng. Rễ của rong sẽ bắt lấy tảng đá, rặng san hô hoặc thậm chí trên mai rùa, mai cua, vỏ động vật nhuyễn. Khi rong phát triển ở giai đoạn trưởng thành, chúng có thể tách khỏi nền rắn, trở thành các cá thể trôi tự do theo dòng nước, thường vướng vào các lớp đá, san hô và các loài rong biển khác [20]. Ulva papenfussii là loài rong nhiệt đới, điều kiện lý tưởng và phát triển nhanh ở những vùng nước cạn và sạch, các điều kiện dinh dưỡng đầy đủ, đặc biệt là các muối amonium và phosphate.
Ngoài ra, loài rong này có khả năng phát triển luân phiên trong hệ sinh thái có sự xuất hiện nhiều loài rong khác. Trong quá trình sinh trưởng rong Ulva papenfussii làm thay đổi chất lượng nước và lớp trầm tích nơi mà chúng sinh trưởng do rong có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ. Nơi nào có sản lượng rong phát triển mạnh, nước êm, các chất hữu cơ lắng, tích tụ, làm tăng tốc độ trầm tích hóa khu vực. Trong điều kiện thiếu oxy ở các lớp bùn như vậy, nhiều khí độc được sinh ra như khí sulfur làm cho môi trường đáy biển bị ô nhiễm.
Chỉ có một số loài sinh vật có thể 9 sống được được như sò huyết, nghêu Manila, ốc sên bùn, chính vì vậy nên nhiều loài cá và động vật thân mềm khác ở các khu vực vịnh Nanwan (Nam Đài Loan) và đảo Mactan (Cebu, Philippines) đã không thể sinh sống và phải di cư khỏi các rặng san hô, nơi các lớp trầm tích tích trữ nhiều khí độc bởi sự xâm lấn của rong Ulva papenfussii. Điều này đã làm cho hệ sinh thái biển mất cân bằng dẫn tới sự thiếu hụt các nhân tố quan trọng của chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái khu vực, làm cho sự đa dạng sinh thái không còn sinh động [20]. Với tốc độ phát triển nhanh không kiểm soát được đã ảnh hưởng rất lớn đến hệ lụy như gây ô nhiễm môi trường như một số quốc gia sinh sống gần biển như đảo Boracay (Philippines), Brittany (Pháp) mất dần khách du lịch. Hằng năm chính quyền bỏ ra không ít kinh phí để xử lý các loài rong trôi dạt vào bờ gây ra hiện tượng thủy triều xanh nhất là vào mùa hè làm ô nhiễm môi trường.
Rong Ulva papenfussii cung cấp nguyên liệu rất quan trọng có khả năng cung cấp nhiều năng lượng (2.725 cal/g) và đa dạng với hàm lượng protein nguyên liệu để chế biến thành các món ăn ở nhiều nước như Indonesia, Philippines, Thái Lan. Ở Nhật Bản, bột rong sấy khô được thêm vào súp để tạo hương vị, món pasta, làm đồ uống và bánh dòn vị rong.