MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu được trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên khắp hành tinh. Đặc biệt khi lương thực và các thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ, rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như: protein, lipit, muối, axit hữu cơ, chất thơm và đặc biệt rau có ưu thế hơn cây trồng khác về vitamin: A, B1, B2, C, E. và các chất khoáng Ca, Fe…thông qua bữa ăn hàng ngày của mỗi người.
Đó là những chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể [15]. Dưa chuột là một trong số những cây rau ăn quả được ưu tiên phát triển ở nhiều địa phương. Dưa chuột là loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm, đồng thời lại có tiềm năng năng suất cao (trung bình đạt 40 - 60 tấn/ha), nên dưa chuột là một trong những loại rau chủ lực trong cơ cấu thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người lao động. Dưa chuột được sử dụng rộng rãi trong mỗi bữa ăn hàng ngày với nhiều hình thức chế biến như: ăn tươi, muối mặn, đóng hộp, dầm giấm…làm phong phú và tăng chất lượng rau ăn hàng ngày, đồng thời giải quyết được tình trạng rau giáp vụ.
Ngoài giá trị dinh dưỡng dưa chuột cũng mang lại giá trị kinh tế cao, dưa chuột là nguồn nguyên liệu phong phú cho các nhà máy chế biến. Đặc biệt dưa chuột muối đóng hộp là loại mặt hàng chủ lực trong số các món rau quả được chế biến xuất khẩu mà thế giới quan tâm. Hiện nay, dưa chuột được trồng ở khắp nơi, đứng thứ 6 trong số các rau trồng trên thế giới. Theo tổng kết của FAO năm 2017 diện tích trồng dưa e 2 chuột trên thế giới là 2.260 ha, năng suất 36,88 tấn/ha và sản lượng đạt 83.861 tấn ở Việt Nam trong những năm gần đây, cây dưa chuột đã trở thành cây rau quan trọng trong sản xuất.
Mặc dù sản phẩm dưa chuột chế biến đang có thị trường rộng lớn trên thế giới nhưng thực tế nghề sản xuất dưa chuột của nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là do người nông dân thiếu bộ giống tốt cho các vùng sinh thái. Các giống dưa chuột hiện trồng phổ biến trong sản xuất chủ yếu là các giống địa phương như Tam Dương, Phú Thịnh, Yên Mỹ, Nam Hà,… với năng suất thấp (15 - 25 tấn/ha) quả nhỏ lại chóng ngả màu vàng, dễ nhiễm sâu bệnh hại. Một vài năm gần đây, việc chuyển sang trồng giống dưa chuột ưu thế lai F1 đã khắc phục được những nhược điểm của các giống địa phương nhưng giá thành giống rất đắt và không thích ứng rộng với các thời vụ trồng và các vùng sinh thái khác nhau.
Vùng sinh thái Duyên hải Nam Trung bộ đặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên thuận lợi cho phát triển các cây thuộc họ bầu bí. Với thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được quanh năm, thị trường tiêu thụ lớn. Thời gian qua công tác lai tạo giống dưa chuột đã được quan tâm nhiều hơn, tuy nhiên năng suất bình quân của vùng còn thấp, chưa mang nhiều tính đặc trưng vượt trội về phẩm chất. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2011, diện tích trồng dưa chuột vùng Duyên hải Nam Trung bộ đạt 1.799 ha, năng suất trung bình đạt 136,8 tạ/ha, thấp hơn mức trung bình cả nước 182,8 tạ/ha.
Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu của Viện KHKT NN Duyên hải Nam Trung bộ đã nghiên cứu thành công các tổ hợp lai F1 được lai tạo trên dòng mẹ là các dòng đơn tính cái, dòng bố là các dòng đơn tính cùng gốc, như: F1 Z7x32-1, F1 Z7x19, F1 Z7x22-93, F1 LS19xLS7 cho năng suất và chất lượng cao. Bước đầu ứng dụng vào thực tiễn sản xuất thay thế các giống địa phương có chất lượng quả chưa đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng (quả e 3 đắng đặc biệt khi thời tiết bất thuận, bảo quản kém). Việc sử dụng giống lai F1 đã cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng của dưa chuột về độ ngọt, độ giòn, thời gian bảo quản, vitamin C.đáp ứng thị trường. Tuy nhiên, với thị hiếu và nhu cầu ngày càng cao về sản phẩm chất lượng mang tính đặc trưng thì tính thơm của quả dưa chuột là đặc tính ưu thế, quan trọng.
Do đó, việc nghiên cứu các đặc tính của giống/dòng dưa chuột thơm là việc làm rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, trên cơ sở một số dòng/giống dưa chuột lai F1 mới được chọn tạo tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung bộ tôi tiến hành đề tài :“Nghiên cứu một số chỉ tiêu hóa sinh, sinh trưởng, năng suất, phẩm chất của 5 dòng/giống dưa chuột thơm trồng trong vụ Đông Xuân tại tỉnh Bình Định” 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Chọn được một số dòng/giống dưa chuột thơm thích hợp cho gieo trồng ở vụ đông xuân tại tỉnh Bình Định để giới thiệu cho sản xuất nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng quả tươi chất lượng cao của thị trường.
Yêu cầu Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống dưa chuột thơm ở vụ Đông Xuân niên vụ 2018 - 2019. Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất. Đánh giá các chỉ tiêu hóa sinh về chất lượng quả của các dòng/giống dưa chuột thơm. Chọn ra được giống dưa chuột thơm thích ứng với vụ đông xuân phục vụ cho tiêu dùng quả tươi.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các số liệu về chỉ tiêu sinh hóa, nông học, khả năng thích nghi, chất lượng của một số dòng/giống dưa chuột thơm do Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ lai tạo. Số liệu nghiên cứu sẽ là cơ sở để tiếp tục phát triển giống dưa chuột thơm cũng như hoàn thiện quy trình canh tác giống dưa chuột trong điều kiện Bình Định và vùng Duyên hải Nam Trung bộ. Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các cán bộ nông nghiệp quan tâm đến nghiên cứu và phát triển giống dưa chuột chất lượng cao.
Qua đánh giá về đặc điểm nông sinh học của các giống có thể phát hiện được các tính trạng quý (năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh hại, chịu nóng…) phục vụ cho công tác chọn tạo giống dưa chuột chất lượng cao. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao, đề xuất được giống dưa chuột thơm cho năng suất, chất lượng đặc trưng đáp ứng yêu cầu của thị trường tiêu dùng, giống phù hợp để giới thiệu bổ sung vào cơ cấu các giống dưa chuột có năng suất, phẩm chất tốt đặc trưng, thích hợp sản xuất trong điều kiện Bình Định. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây dưa chuột Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) thuộc họ bầu bí, là loại rau ăn quả trồng lâu đời nhất, được biết đến cách đây khoảng 5.
Song cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc xuất xứ của loại cây này. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng cây dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Ấn Độ (Nam Á), nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể 2n = 14. Loài hoang dại Cucumis hardiwickii Royle là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả cứng và thưa được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya (Robinson and Walter, 1999; Siemonsma and Kasem, 1994). Qua nghiên cứu nhiều năm tập đoàn giống dưa chuột địa phương thu thập từ nhiều vùng khác nhau của Việt Nam trong điều kiện nhà có mái che tại Học viện Nông nghiệp Timiryazev (Matxcơva), điều kiện ngoài đồng tại Viện cây trồng Liên Xô (Leningrat) và qua khảo sát tại chỗ, Taracanov (1972, 1975, 1977) và Noshovov (1968, 1975) đã ủng hộ giả thiết trên của Tcachenco (trích theo Trần Khắc Thi, 1985).
[19] Từ kết quả nghiên cứu qua các chuyến thám hiểm thực địa, nhà thực vật học Vavilov (1926) đã cho rằng Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ 2 của loài dưa này. Các tài liệu cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận ngay từ thế kỷ thứ IV ở đây đã trồng dưa chuột. Từ việc phát hiện ra dạng cây dưa chuột hoàn toàn hoa cái (Gynoecious) trong tập đoàn giống từ Trung Quốc, giống như các dạng cây này của Nhật Bản được phát hiện trước đó, Mochshorov e 6 cho rằng dưa chuột Trung Quốc được trồng từ lâu ở những vùng có điều kiện khí hậu mát mẻ của Nhật Bản. Tác giả cũng khẳng định rằng dưa chuột Nhật Bản và Trung Quốc có cùng một nguồn gốc.
Điều này cũng phù hợp với ý kiến của một số nhà khoa học khác cho rằng dưa chuột được chuyển từ Trung Quốc sang Nhật Bản trong khoảng thời gian từ năm 923 – 930 (dẫn theo Trần Khắc Thi, 1985). [19] Từ vùng nguyên sản, dưa chuột được du nhập vào Châu Âu từ thế kỷ XV. Dưa chuột được đưa đến nước Anh, Columbus đã gieo trồng dưa chuột ở Haiti trong chuyến du lịch đường biển lần thứ 2 của ông. Từ thế kỷ XVI người Tây Ban Nha đã phát hiện ra dưa chuột ở các thuộc địa bị họ thống trị (Robinson and Walter, 1999) [20].
Từ Châu Âu, dưa chuột được đưa tới Châu Mỹ muộn hơn, mãi đến cuối thế kỷ XVII chúng mới được phổ biến rộng rãi ở các trung tâm nông nghiệp tại lục địa này. Hiện nay dưa chuột được trồng hầu như khắp nơi trên thế giới, từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi đến tận 63 vĩ độ Bắc. Ngoài ra ở các vùng cực Bắc Châu Âu, dưa chuột giữ vị trí hàng đầu trong số các cây trồng trong nhà kính. Ở nước ta, dưa chuột được trồng từ bao giờ cho đến nay vẫn chưa được rõ.
Tài liệu sớm hơn cả có nhắc đến dưa chuột là sách “Nam phương thảo mộc trạng” của Kế Hàm có từ năm Thái Khang thứ 6 giới thiệu “… cây dưa leo hoa vàng, quả dài cỡ gang tay, ăn mát vào mùa hè”. Mô tả kỹ hơn cả là cuốn “ Phủ biên tạp lục” (năm 1775) Lê Quý Đôn đã ghi rõ tên dưa chuột và vùng trồng là Đàng Trong (từ Quảng Bình đến Hà Tiên) và Bắc Bộ (Nguyễn Văn Hiển và cs.