Nghiên cứu sử dụng bột gỗ phế thải để chế tạo vật liệu compozit trên nền nhựa PVC

Nghiên cứu sử dụng bột gỗ phế thải trong chế tạo vật liệu compozit trên nhựa polyvinyl clorua, mở ra hướng đi mới cho ngành vật liệu.

Chuyên ngành

Hóa môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu chung về vật liệu compozit nhựa/gỗ

1.2. Vật liệu nền polyvinyl clorua (PVC)

1.3. Bột gỗ và bột gỗ keo tai tượng (BG)

1.4. Phụ gia gia cường silica

1.5. Bột gỗ biến tính hạt nano silica (SiO2)

1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2. THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguyên liệu và hóa chất

2.2. Chế tạo vật liệu compozit PVC/BG

2.3. Xử lý bột gỗ bằng xút nóng (NaOH). Biến tính bề mặt bột gỗ bằng TEOS

2.4. Các phương pháp và thiết bị nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu các đặc trưng nóng cháy của vật liệu PVC/BG

2.4.2. Phương pháp xác định tính chất cơ học

2.4.3. Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA)

2.4.4. Phổ hồng ngoại phân tích chuỗi Fourrie (FT-IR)

2.4.5. Phương pháp kính hiển vi trường điện tử phát xạ (FESEM)

2.4.6. Phương pháp lưu biến trạng thái rắn

2.4.7. Khảo sát khả năng ngấm ẩm của vật liệu

2.4.8. Khảo sát sự suy giảm oxy hóa quang-nhiệt-ẩm

2.4.9. Sự thay đổi màu sắc

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tính chất nóng chảy, tính chất cơ học của vật liệu compozit PVC/BG

3.2. Ảnh hưởng của hàm lượng DOP lên các đặc trưng nóng chảy của vật liệu compozit

3.3. Ảnh hưởng của hàm lượng BG đến khả năng nóng chảy của vật liệu

3.4. Ảnh hưởng của hàm lượng chất biến tính TEOS trên bột gỗ có và không có xử lý kiềm tới tính chất của compozit

3.5. Tính chất nóng chảy và tính chất cơ học của PVC/BG và PVC/BKT

3.6. Tích chất uốn

3.7. Lưu biến trạng thái rắn

3.8. Tính chất nhiệt của vật liệu compozit PVC/BG

3.9. Hình thái cấu trúc của compozit của vật liệu compozit PVC/BG

3.10. Nghiên cứu tính ngấm ẩm (Khả năng hấp thụ nước)

3.11. Thử nghiệm gia tốc thời tiết

3.12. Tính chất cơ học. Phổ hồng ngoại (IR)

3.13. Độ suy giảm màu sắc

3.14. Cấu trúc hình thái bề mặt compozit

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thải và nhựa PVC

Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thảinhựa PVC đang trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành công nghiệp vật liệu. Vật liệu compozit này không chỉ giúp tận dụng nguồn phế liệu mà còn mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và môi trường. Việc sử dụng bột gỗ phế thải trong sản xuất vật liệu compozit giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm có tính năng vượt trội. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào quy trình chế tạo, tính chất và ứng dụng của vật liệu compozit PVC/BG.

1.1. Giới thiệu về vật liệu compozit nhựa gỗ

Vật liệu compozit nhựa/gỗ là sự kết hợp giữa bột gỗnhựa PVC, tạo ra một sản phẩm có độ bền cao và khả năng chống chịu tốt với các yếu tố môi trường. Sự kết hợp này không chỉ mang lại tính thẩm mỹ mà còn giúp cải thiện tính chất cơ học của vật liệu.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng bột gỗ phế thải trong chế tạo vật liệu compozit có thể giảm thiểu chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Các nước như Mỹ, Đức và Nhật Bản đã áp dụng thành công công nghệ này trong sản xuất vật liệu xây dựng.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu vật liệu compozit

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thảinhựa PVC cũng gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề chính là việc xử lý bột gỗ để đảm bảo tính đồng nhất và chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Ngoài ra, việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu bền vững và giá cả hợp lý cũng là một thách thức lớn.

2.1. Thách thức trong việc xử lý bột gỗ

Xử lý bột gỗ để loại bỏ tạp chất và cải thiện tính chất bề mặt là một bước quan trọng trong quy trình chế tạo. Việc này đòi hỏi công nghệ tiên tiến và quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.

2.2. Khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu

Nguồn bột gỗ phế thải có thể không ổn định và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chế biến gỗ. Việc đảm bảo nguồn cung cấp liên tục và chất lượng cao là một thách thức lớn cho các nhà sản xuất.

III. Phương pháp chế tạo vật liệu compozit PVC BG hiệu quả

Để chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thảinhựa PVC, cần áp dụng các phương pháp tiên tiến nhằm tối ưu hóa tính chất của sản phẩm. Quy trình chế tạo bao gồm các bước như xử lý bột gỗ, trộn với nhựa PVC và ép nhiệt để tạo hình sản phẩm.

3.1. Quy trình xử lý bột gỗ

Bột gỗ cần được xử lý bằng các phương pháp như kiềm hóa và biến tính bề mặt để cải thiện khả năng kết dính với nhựa PVC. Việc này giúp tăng cường tính chất cơ học của vật liệu compozit.

3.2. Kỹ thuật trộn và ép nhiệt

Sau khi xử lý, bột gỗ được trộn đều với nhựa PVC và các phụ gia khác trước khi được ép nhiệt. Kỹ thuật này giúp tạo ra sản phẩm có độ bền cao và khả năng chống chịu tốt với môi trường.

IV. Tính chất và ứng dụng của vật liệu compozit PVC BG

Vật liệu compozit từ bột gỗ phế thảinhựa PVC có nhiều tính chất ưu việt như độ bền cơ học cao, khả năng chống nước và chống cháy. Những tính chất này làm cho vật liệu này trở thành lựa chọn lý tưởng cho nhiều ứng dụng trong ngành xây dựng và nội thất.

4.1. Tính chất cơ học của vật liệu compozit

Vật liệu compozit PVC/BG cho thấy độ bền kéo và độ cứng cao, giúp nó có thể chịu được các tác động cơ học trong quá trình sử dụng. Các thử nghiệm cho thấy vật liệu này có khả năng chịu lực tốt hơn so với nhiều loại vật liệu truyền thống.

4.2. Ứng dụng trong ngành xây dựng

Vật liệu compozit này được sử dụng rộng rãi trong xây dựng như làm ván sàn, cửa sổ, và các sản phẩm nội thất. Nhờ vào tính năng vượt trội, nó đang dần thay thế các vật liệu truyền thống trong nhiều ứng dụng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của vật liệu compozit

Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thảinhựa PVC không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Với sự phát triển của công nghệ, triển vọng cho vật liệu này trong tương lai là rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh ngày càng nhiều doanh nghiệp hướng tới sản xuất bền vững.

5.1. Tương lai của vật liệu compozit trong ngành công nghiệp

Với nhu cầu ngày càng tăng về vật liệu thân thiện với môi trường, vật liệu compozit từ bột gỗnhựa PVC có tiềm năng lớn trong việc thay thế các vật liệu truyền thống, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà sản xuất.

5.2. Định hướng nghiên cứu và phát triển

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện quy trình sản xuất và tối ưu hóa tính chất của vật liệu để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Việc phát triển các công nghệ mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu tác động đến môi trường.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu sử dụng bột gỗ phế thải chế tạo vật liệu compozit trên nhựa nền polyvinyl clorua

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho sự phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam với việc khai thác mỏ khí ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình và sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Việt Xô. Theo số liệu của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, đến hết tháng 12 năm 2006, trên 235 triệu tấn dầu quy đổi đã được khai thác trong đó dầu thô đạt trên 205 triệu tấn và cung cấp 30 tỉ m3 khí cho sản xuất điện và các nhu cầu dân sinh khác. Hiện nay, tổng lượng dầu khí khai thác hằng năm đạt trung bình khoảng 20 triệu tấn quy đổi. Dầu khí đã có nhưng việc sử dụng tài nguyên quý báu này như hiện nay (bán 100% dầu thô và làm nhiên liệu 100% lượng khí) thì chưa thực sự hiệu quả.

Chính vì vậy, ngành Dầu khí và Hóa chất đã lập các chiến lược phát triển lâu dài cho bước chế biến và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyết định 343/2005/QĐ-TTg ngày 26/12/2005 và 386/2006/QĐ-TTg ngày 09/3/2006. Các quyết định trên là việc cụ thể hóa đường lối phát triển ngành hóa dầu Việt Nam. Ở Việt Nam, cũng như tất cả các nước Đông Nam Á khác (kể cả Đài Loan), công ngiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa đều khởi đầu từ PVC. Sơ đồ sau cho ta khái quát các bước phát triển của quá trình sản xuất PVC từ dầu mỏ và sự phát triển của ngành hóa dầu Việt Nam.

Sơ đồ phát triển ngành hóa dầu ở Việt Nam Ngành sản xuất nhựa PVC ở Việt Nam bắt đầu vào năm 1998 với sự hiện diện của liên doanh TPC Vina (tiền thân là Mitsui Vina). Đây là liên doanh giữa Công ty Cổ phần Nhựa và Hóa chất Thái Lan (TPC), Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và Công ty Nhựa Việt Nam (Vinaplast). Nhờ liên doanh này lượng PVC nhập khẩu giảm từ 74.000 tấn vào năm 1999 và chỉ còn trên dưới 50.000 tấn vào những năm sau này.Công suất của TPC Vina là 100. Cuối năm 2002, nhà máy sản xuất PVC thứ hai (Liên doanh giữa Petronas Malaysia với Bà Rịa – Vũng Tàu) có công suất 100.000 tấn/năm cũng bắt đầu tham gia vào thị trường.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình cung cầu nhựa PVC tại Việt Nam theo TPC Vina, Hiệp hội nhựa Việt Nam Nhựa polyvinyl clorua (PVC), là loại nhựa nhiệt dẻo được sử dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. PVC có nhiều ưu điểm như giá thành rẻ, tính chất cơ lý tốt, bền với hóa chất, có tính chống cháy. So với các loại nhựa nhiệt dẻo khác như polypropylen (PP), polyethylen (PE)… thì PVC có một ưu điểm rất lớn, đó là độ phân cực cao do đó độ tương hợp giữa PVC và bột gỗ sẽ tốt hơn.

Đặc biệt PVC là nhựa nhiệt dẻo nên có khả năng tái sinh và ở điều kiện làm việc bình thường (nhiệt độ phòng, ánh sáng mặt trời…) compozit nhựa nhiệt dẻo PVC có độ độc hại rất thấp. Bột gỗ và bột gỗ keo tai tượng (BG) Giới thiệu chung về bột gỗ Bột gỗ sản xuất ra phục vụ chủ yếu cho ngành công nghiệp giấy tại Việt Nam, Tuy nhiên với lượng phế phẩm dư thừa từ ngành chế biến lâm sản (sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, nội thất…) cũng được sử dụng sản xuất bột gỗ với mục đích xuất khẩu, đốt nhiên liệu, làm nhang hương… với hàm lượng giá trị kinh tế thấp. Các phương pháp sản xuất bột gỗ đang được sử dụng tại các cơ sở sản xuất bột gỗ chủ yếu là phương pháp cơ học (nghiền, mài) ngoài ra còn có các phương pháp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác như hóa học (sử dụng các phản ứng hóa học đề phá vỡ liên kết của các sợi gỗ), bán hóa học (kết hợp phương pháp cơ học và hóa học). Phương pháp cơ bản để sản xuất bột cơ là phương pháp mài và nghiền.

Tuy nhiên, cả 2 phương pháp đều có 1 số giai đoạn cơ bản tương tự nhau như sau: Hình 1. Sơ đồ các giai đoạn trong sản xuất bột gỗ Bột gỗ thành phẩm được xuất khẩu đi các thị trường Đài Loan, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á. Bột gỗ thành phẩm có độ ẩm < 12%, tạp chất <1%, đóng gói bằng bao 50 kg hoặc ép bánh kích thước 30 x 40 x 40 cm, kích thước có nhiều loại từ 0, 1 – 1 mm. Các cơ cấu mài khác nhau của một số loại máy mài bột gỗ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Giá bột gỗ keo xuất khẩu (USD/tấn) Thành phần hóa học chủ yếu của các loại bột gỗ thông thường bao gồm 3 loạipolyme tự nhiên là xenluloza, hemixenluloza và lignin, cấu trúc hóa học của các polyme đó được trình bày trong các hình 9, 10, 11: Hình 1. Cấu trúc hóa học của xenluloza O O H H H H H H H H H OH H H OCCH3 H CH3 CO HO O O O O O O O HO O O OH H HO O H H H H H H H H H H OH H H H OH O H COOH OCH3 H Hình 1. Cấu trúc hoá học của hemixenluloza 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com OCH 3 O O H 2C C OH CH 2 OCH 3 OCH 3 O O H 2C C O CH 2 OCH 3 Hình 1. Cấu trúc hóa học của lignin Trong các loại gỗ khác nhau, hàm lượng các chất thành phần của các polyme trên cũng khác nhau.

Trong bảng 1 trình bày thành phần của một số loại gỗ và sợi tự nhiên [8, 12] Bảng 1. Thành phần hóa học của một số cây keo tự nhiên Xenluloza Lignin Hemixenluloza Tro khoáng Loại / Địa điểm (%) (%) (%) (%) Keo lai Vĩnh Phúc 51,0 23,2 24,5 0,27 Keo tai tượng Vĩnh Phúc 49,0 25,5 23,8 0,19 Bạch đàn đỏ Vĩnh Phúc 45,5 24,7 23,1 0,339 Keo lai Nghệ An 49,0 24,8 21,7 0,29 Keo tai tượng Nghệ An 50,8 23,1 19,9 0,55 Bạch đàn đỏ Nghệ An 47,5 21,6 20,4 0,70 Keo lai Đồng Nai 50,5 24,5 23,0 0,33 Keo lá tràm Đồng Nai 47,5 25,5 19,5 0,40 Bạch đàn đỏ Đồng Nai 47,5 25,0 19,0 0,65 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giới thiệu về bột gỗ keo tai tượng Cây gỗ keo tai tượng là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30 m. Đường kính có thể đạt được đến 120–150 cm. Ở Việt Nam, keo tai tượng được trồng rừng với mục đích chủ yếu là cải tạo môi trường sinh thái và sản xuất gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, gỗ ván dăm.

Một vài khảo nghiệm cho thấy, rừng giống ở Tuyên Quang sau trồng 24 tháng có tốc độ sinh trưởng chiều cao đạt 2,5 – 3m/năm và có thể cho khoảng 200–250 kg hạt giống/năm [12]. Ảnh gỗ, cây keo tai tượng Keo tai tượng là cây đa tác dụng, gỗ có giác lõi phân biệt, với tỷ trọng từ 0,5- 0,6, sợi dài 1-1,2 mm; dùng làm gỗ giấy, gỗ dăm, gỗ xẻ, đóng đồ mộc cao cấp, làm ván ghép thanh, bao bì,…. Gỗ có nhiệt lượng khá cao 4800 kcal/kg do đó cũng có thể dùng để đốt than, làm củi đun rất tốt. Là loài cây mọc nhanh, tán lá dày, thường xanh nên còn được trồng làm cây bóng mát ở công viên, đường phố.

Hoa có thể dùng để nuôi ong, vỏ chứa tananh dùng cho công nghệ thuộc da, lá cây có thể làm thức ăn cho gia súc. Rễ có nhiều nốt sần có khả năng cố định đạm rất tốt, nên Keo tai tượng nói riêng và các loài keo nói chung, ngoài việc sử dụng để trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ, còn được trồng ở những nơi có đất khô cằn, bị thoái hoá để tận dụng khả năng cải tạo đất của chúng. Rừng keo tai tượng trồng 10 tuổi ở nơi đất trung bình có thể cho 12 đến 15 m3/ha/năm, nơi đất tốt với xuất xứ phù hợp và trồng thâm canh có thể cho 18 đến 20, thậm chí đạt 25 m3/ha/năm. Tăng trưởng bình quân ở giai đoạn 10-13 tuổi đạt tới 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24m3/ha/năm, ở Nam Phi rừng trồng bằng cây con từ hạt đạt 21,9 m3/ha/năm và từ các dòng vô tính đạt 30 m3/ha/năm.

Nếu kết hợp kinh doanh gỗ xẻ sau 15-18 năm khai thác gỗ dùng để đóng đồ mộc cao cấp nhất là cho xuất khẩu thì càng có giá trị cao, cũng vì vậy mà những năm gần đây nhiều nơi đã rất chú trọng trồng keo tai tượng nhất là ở các tỉnh phía Bắc như Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh. Với những ưu điểm, tính phổ cập của loại gỗ keo này, luận văn đã lựa chọn bột gỗ cây keo tai tượng được sử dụng làm chất gia cường để chế tạo vật liệu compozit PVC/BG.Phụ gia gia cường silica Giới thiệu chung về phụ gia gia cường Phụ gia gia cường kích thước nanomet cho vật liệu compozit bột nhựa/gỗ nhiệt dẻo được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm trong những năm gần đây. Bột gỗ sau quá trình gia công chế tạo từ vật liệu gỗ tự nhiên ban đầu qua các công đoạn như băm, nghiền, xay, lọc… bề mặt bột gỗ xuất hiện nhiều khuyết tật như các vết rách, nứt, lồi lõm, tạo ra những lỗ rỗng kích thước vi mô. Vấn đề này làm giảm khả năng tiếp xúc và tương tác (tương tác pha yếu) giữa hai pha nhựa nền và bột gỗ khi phối trộn, do đó làm giảm tính chất và độ bền của vật liệu compozit.

Sử dụng phụ gia gia cường kích thước nanomet, với phương pháp phân tán phù hợp giữa vùng phân pha, các hạt vô cơ kích thước nanomet cơ lý tính tốt có khả năng lấp đầy các khuyết tật trên bề mặt bột gỗ, làm tăng diện tích tiếp xúc, tăng khả năng tương hợp giữa pha phân tán và pha nền. Mỗi loại chất gia cường với những hàm lượng thích hợp có thể nâng cao một số tính năng nào đó của vật liệu. Các chất gia cường thường được sử dụng như than hoạt tính, silic dioxit (SiO2), sợi cacbon, sợi thủy tinh, sợi Kevlar clay, [15]. Giới thiệu Silic dioxit (SiO2) Trong các loại chất gia cường vô cơ được sử dụng trong công nghiệp, SiO2 là một trong những chất gia cường, tăng cường có hiệu quả cao nhất.

SiO2 được đưa vào trong vật liệu ở dạng bột mịn, được điều chế bằng phương pháp ướt hoặc bằng phương pháp sương mù. Kết quả một số công trình nghiên cứu sử dụng SiO2 gia 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cường trong vật liệu polyme cho thấy tính chất cơ lý và khả năng cách điện của vật liệu được cải thiện đáng kể [15, 23]. Bột SiO2 còn được sử dùng như một chất phụ gia gia cường tốt cho vật liệu compozit.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit từ bột gỗ phế thải và nhựa PVC" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc sử dụng bột gỗ phế thải kết hợp với nhựa PVC để tạo ra vật liệu compozit. Nghiên cứu này không chỉ giúp giảm thiểu chất thải từ gỗ mà còn tạo ra một loại vật liệu mới có tính năng vượt trội, phù hợp cho nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm hiểu biết sâu sắc về quy trình chế tạo, tính chất của vật liệu compozit, cũng như tiềm năng ứng dụng trong thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực vật liệu compozit, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ hus tổng hợp và khảo sát một số đặc trưng của vật liệu compozit giữa canxi hydroxyapatit ha và tinh bột sắn tapioca, nơi nghiên cứu về các loại vật liệu compozit khác. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ chế tạo nghiên cứu tính chất và hình thái cấu trúc của vật liệu compozit trên cơ sở copolyme etylen vinyl axetat eva và nanosilica cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cấu trúc và tính chất của các vật liệu compozit hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ hus tổng hợp và nghiên cứu tính chất compozit titan dioxit polianilin cacbon nano tubes định hướng làm vật liệu nguồn điện, một nghiên cứu liên quan đến ứng dụng của vật liệu compozit trong công nghệ năng lượng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực vật liệu compozit và các ứng dụng của chúng.