Tài liệu: Nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ thân cây bắp ngô để xử lý

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ thân cây bắp ngô để xử lý màu reactive orange 16 trong nước, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Sài Gòn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chế tạo than hoạt tính từ thân cây bắp

Than hoạt tính từ thân cây bắp là một vật liệu tiên tiến được chế tạo từ nguồn nguyên liệu nông nghiệp có sẵn. Thân cây bắp chứa cellulose và lignin, những thành phần lý tưởng để tạo ra than hoạt tính chất lượng cao. Quá trình chế tạo bao gồm các bước than hóa nhiệt tại 400°C kéo dài 90 phút, giúp tạo ra cấu trúc xốp với diện tích bề mặt lớn. Vật liệu này có khả năng hấp phụ hiệu quả các chất ô nhiễm, đặc biệt là các màu nhuộm trong nước thải. Ứng dụng của than hoạt tính từ bắp không chỉ giúp xử lý ô nhiễm môi trường mà còn tận dụng tối ưu các chất thải nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm của thân cây bắp như nguyên liệu thô

Thân cây bắp sở hữu nhiều đặc điểm lợi thế: dự trữ dồi dào, chi phí thu thập thấp, và giàu các hợp chất hữu cơ như cellulose. Cấu trúc màng mỏng của thân bắp cho phép xâm nhập dễ dàng của các tác nhân hoạt tính hóa. Thành phần này chứa ít tro, giúp tăng hiệu suất chế tạo than hoạt tính và cải thiện đặc tính hấp phụ.

1.2. Quá trình than hóa và điều kiện tối ưu

Quá trình than hóa là bước then chốt để biến đổi thân bắp thành than hoạt tính. Nhiệt độ 400°C kết hợp với thời gian nung 90 phút được xác định là điều kiện tối ưu. Trong giai đoạn này, các phân tử hữu cơ phân hủy, tạo ra cấu trúc lỗ xốp phát triển tốt, tăng diện tích bề mặt và khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm một cách hiệu quả.

II. Đặc tính cấu trúc và hình thái của than hoạt tính

Cấu trúc vật lý của than hoạt tính từ thân cây bắp được khảo sát qua phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM). Kết quả cho thấy bề mặt than hoạt tính có đặc điểm thô ráp, xốp với hệ thống lỗ rộng phát triển đầy đủ. Các lỗ xốp này có hình ống, tạo điều kiện lý tưởng cho quá trình hấp phụ các phân tử màu nhuộm. Hình thái này đảm bảo diện tích bề mặt lớn, giúp tăng cường hiệu quả xử lý. Sự phát triển của hệ thống lỗ xốp là kết quả trực tiếp từ quá trình than hóa, nơi các chất dẻo bị loại bỏ. Than hoạt tính từ bắp do đó có khả năng hấp phụ vượt trội so với than không được kích hoạt.

2.1. Phân tích cấu trúc vi mô bằng SEM

Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) cung cấp hình ảnh chi tiết về cấu trúc vi mô của than hoạt tính. Ảnh SEM cho thấy sự phân bố đồng đều của các lỗ xốp trên bề mặt, với độ sâu thẩm thấu cao. Các lỗ hình ống này kéo dài sâu vào bên trong hạt than, tạo ra mạng lưới phức tạp cho quá trình hấp phụ hiệu quả các chất ô nhiễm.

2.2. Diện tích bề mặt và khả năng hấp phụ

Diện tích bề mặt của than hoạt tính là yếu tố quyết định khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm. Cấu trúc xốp với hệ thống lỗ phát triển tạo ra diện tích bề mặt lớn, cho phép hấp phụ nhiều phân tử chất màu nhuộm như Reactive Orange 16. Độ phát triển của lỗ xốp trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý nước thải dệt nhuộm.

III. Ứng dụng trong xử lý nước thải dệt nhuộm

Nước thải dệt nhuộm chứa lượng lớn các chất màu nhuộm, đặc biệt là màu nhuộm Reactive Orange 16 (RO16), gây ô nhiễm nghiêm trọng. Than hoạt tính từ thân cây bắp đã chứng minh hiệu quả cao trong việc loại bỏ các chất màu nhuộm này khỏi nước thải. Quá trình hấp phụ là cơ chế chính, trong đó các phân tử chất màu bị kéo lên bề mặt và các lỗ xốp của than. Kết quả thí nghiệm xử lý nước thải dệt nhuộm thực tế cho thấy khả năng xử lý hiệu quả của vật liệu này. Ưu điểm của phương pháp bao gồm: chi phí thấp, không sử dụng hóa chất bổ sung, và có thể tái sử dụng than. Ứng dụng than hoạt tính từ bắp đại diện cho một giải pháp bền vững và kinh tế cho xử lý nước thải công nghiệp.

3.1. Nguyên lý hấp phụ của màu Reactive Orange 16

Màu nhuộm Reactive Orange 16 là một chất phức tạp có khả năng dính mạnh vào cellulose. Quá trình hấp phụ trên than hoạt tính bao gồm tương tác vật lý giữa các phân tử màu và bề mặt than. Diện tích bề mặt lớn của than hoạt tính từ bắp cho phép liên kết nhiều phân tử RO16, đạt hiệu suất xử lý cao trong thời gian ngắn.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ

Hiệu suất xử lý nước thải bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: pH dung dịch, khối lượng than sử dụng, và thời gian tiếp xúc. pH tối ưu giúp tăng cường khả năng hấp phụ. Khối lượng than càng lớn, diện tích bề mặt tương tác càng nhiều. Thời gian tiếp xúc đủ đảm bảo quá trình hấp phụ đạt cân bằng hoàn toàn, tối đa hiệu quả xử lý.

IV. Tối ưu hóa quy trình chế tạo và phát triển tương lai

Để nâng cao hiệu quả chế tạo than hoạt tính từ thân cây bắp, cần tối ưu hóa nhiều khía cạnh của quy trình. Các yếu tố như nhiệt độ than hóa, thời gian nung, và loại chất hoạt tính hóa đều cần được khảo sát kỹ lưỡng. Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện 400°C trong 90 phút cho hiệu quả tốt nhất. Tuy nhiên, còn nhiều hướng phát triển: sử dụng các chất hoạt tính hóa khác nhau để tăng diện tích bề mặt, thử nghiệm các nguồn nguyên liệu nông nghiệp khác, hoặc kết hợp than hoạt tính với các vật liệu khác. Ứng dụng thực tế của công nghệ này ở các nhà máy dệt nhuộm là hướng phát triển quan trọng. Bên cạnh đó, nghiên cứu về khả năng tái sử dụngxử lý than dùng cũ sẽ giúp hoàn thiện vòng kinh tế tuần hoàn, tạo ra một giải pháp bền vững thực sự.

4.1. Cải tiến kỹ thuật chế tạo than hoạt tính

Cần tiến hành khảo sát sâu về ảnh hưởng của các tham số điều kiện: tốc độ tăng nhiệt độ, loại khí trơ sử dụng, và quy trình hậu xử lý. Sử dụng hoạt tính hóa hóa học hoặc vật lý có thể cải thiện đáng kể khả năng hấp phụ. Các thí nghiệm với chất hoạt tính hóa khác nhau như H₂SO₄ hoặc KOH sẽ giúp xác định giải pháp tối ưu nhất cho xử lý nước thải dệt nhuộm.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng thực tế

Ứng dụng rộng rãi của than hoạt tính từ bắp phụ thuộc vào các điều kiện: chuẩn hóa quy trình sản xuất, đánh giá chi phí-hiệu quả, và chứng thực công nghệ tại các cơ sở thực tế. Tái sử dụng than dùng cũ thông qua các kỹ thuật tái tạo sẽ giảm chi phí vận hành. Hợp tác giữa các cơ sở dệt nhuộmđơn vị nghiên cứu là bước cần thiết để phổ biến công nghệ này.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN 1. TONG QUAN VE CAY BAP 1. Giới thiệu chung Cay bap (Zea mays L. mays; B6 (ordo): Poales; là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, góp phân nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn thế giới, trong đó các nước ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi bắp được dùng làm lương thực chính.

Cây bắp không chỉ làm lương thực mà còn là nguồn thức ăn cho gia súc, gia cằm, nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp lương thực - thực phẩm - được phẩm - công nghiệp nhẹ. Ngoài ra, bắp còn là nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học được quan tâm phát triển trong giai đoạn hiện nay khi mà nguồn năng lượng dầu mỏ, than đá đang dần cạn kiệt. Ở Việt Nam, cây bắp là cây lương thực đứng thứ hai sau lúa gạo. Diện tích, năng suất, sản lượng bắp tăng theo từng năm, từ hơn 200 ngàn ha với năng suất 10 tạ/ha năm 1960, đến năm 2017 diện tích đã đạt 1,1 triệu ha với năng suất 46,5 ta/ha [49].

Với sản lượng bắp lớn cùng nhu cầu xuất khẩu va tiêu thụ ngày càng tăng làm phát thái ra môi trường một lượng lớn phụ phẩm từ cây bắp như thân cây bắp, lõi bắp. Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia — Giai đoạn 2016 — 2020, phụ phẩm từ cây bắp như thân — lá phát sinh với 9.615,2 tắn, lõi bắp phát sinh với 1.285,2 tấn chỉ đứng sau phụ phẩm từ cây lúa và cây mía [45]. Với lượng phụ phẩm lớn như vậy nêu không tận dụng và giải quyết sẽ gây ra ô nhiễm môi trường. Đặc điểm của thân cây bắp Cây bắp thuộc loài cỏ thân gỗ.

Đường kính thân cây bắp trưởng thành khoáng 20 - 35 mm, chiều cao khoảng 1,8 m — 3,0 m [47]. Thân cây bắp, một trong những loại phế liệu nông nghiệp được biết đến nhiều nhất, dồi dào và sẵn có trên toàn thé giới, được biết đến là rất giàu cellulose [35]. Tế bàođôi Lỗ khi Nhu mô Mô dẫn Biểu bi Mach m Hình 1. Đặc tinh cau trúc thân cây bắp [47] Thân cây bắp là nguyên liệu thô không đồng nhất và bao gồm khoảng 40% cellulose, 18% lignin, 12% pentosan, 3,5% hac in, sap va chất béo được chiết xuất bằng hỗn hợp cồn — benzen, 12% chất chiết xuất bằng nước nóng: 25% chất chiết bang dung dịch kiềm 1%.

Ngoàải ra, tùy thuộc vào các hoạt động trồng trợt, chúng có thể nhận được hàm lượng tro đủ cao (phổ biến nhất là lên đến 10%) [18]. Hơn nữa, thân cây bắp có cầu trúc mạng lưới vĩ mô, độ ổn định cơ học tốt và nhiều nhóm chức khác nhau (hydroxyl, cacboxyl, cacbonyl) [29]. Trên thực tế, các nhóm hydroxyl (-OH) trong cellulose 1a thanh phan chinh cua thân bắp, có khả năng hấp phụ nhất định, nhưng khá năng hấp phụ của nhóm hydroxyl (-OH) trong cellulose nói chung thấp hơn đo các nhóm -OH tham gia vào liên kết hydro liên phân tử của cellulose. Do đó, các thân cắp hiếm khi được sử dụng để hấp phụ trực tiếp.

Tuy nhiên, khá năng phản ứng hóa học cua cac nhém hydroxyl (-OH) 6 C — 6, C — 2 và C — 3 trong cellulose là một nhóm chức năng quan trọng khác của thân bắp. Sự biến đổi hóa học có thể được thực hiện để phá hủy các liên kết hydro nảy, làm cho các nhóm -OH ở C - 6, C - 2 và C — 3 trở nên dé phản ứng hơn đề gắn các nhóm chức khác đề có đặc tính hấp phụ tốt hơn [35]. Ứng dụng Phụ phẩm nông nghiệp từ thân cây bắp là nguồn nguyên liệu phong phú đề chế biến thức ăn chăn nuôi. Nhờ phát triển công nghệ chế biến, thân cây bắp còn được ứng đụng trong nhiều mục đích công nghiệp như năng lượng tái tạo sinh học (ví đụ ethanol để sản xuất xăng sinh học), vật liệu mới.

Thân cây bắp còn được ép đùng để tổng hợp nhiên liệu làm khí gas tự nhiên, tông hợp nhiên liệu lỏng, sản xuất nguồn vật liệu nano — cacbon thân thiện với kinh tế, làm sợi sinh học dùng trong bê tông nhựa, làm axit c1trie, (một axit hữu co yếu, một chất bảo quản tự nhiên và cũng được sử dụng để bổ sung vị chua cho thực phâm hay các loại nước ngọt),. Thân bắp thường được sử dụng để làm thức ăn thô xanh, làm chất độn chuồng, hoặc đốt trực tiếp. Nhưng việc đốt rác thân cây bắp không chỉ gây lãng phí lớn tài nguyên sinh khối mà còn gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng [35]. TONG QUAN VE NUOC THAI DET NHUOM 1.

Sơ lược về nước thải dệt nhuộm Nước thải đệt nhuộm là sự tổng hợp nước thái phat sinh từ tất cả các công đoạn hé soi, nau tay, tay trang, làm bóng sợi, nhuộm 1n và hoàn tất. Theo phân tích của các chuyên gia, trung bình, một nhà máy dệt nhuộm sử dụng một lượng nước đáng kê, trong đó, lượng nước được sử dụng trong các công đoạn sản xuất chiếm 72.3%, chủ yếu là trong công đoạn nhuộm và hoàn tất sản phâm [27]. Về tác động môi trường của nước thải dệt nhuộm, ngành dệt may được ước tính sử dụng nhiều nước hơn bắt kỳ ngành nảo khác trên toàn cầu và hầu như tất cá nước thải thải ra đều bị ô nhiễm nặng. Các nhà máy dệt cỡ trung bình tiêu thụ khoảng 200L nước cho mỗi kg vải được xử lý mỗi ngày [39].

Nước thái đệt nhuộm chứa các loại màu nhuộm có tính biến đổi cao có cấu trúc đa dạng bao gồm màu nhuộm bazơ, axit, phản ứng, azo, phức kim loại và điazo. Các đặc tính điển hình của nước thải dệt nhuộm bao gồm nhiệt độ cao, khoảng pH rộng, nhu cau oxy hoa hoc (COD), nhu cau oxy sinh hoc (BOD), kim loai nang va nhiéu loai chat gay 6 nhiễm như màu nhuộm, muối, chất hoạt động bề mặt, chất rắn hòa tan và chat ran lơ lửng [39]. Trong số các chất ô nhiễm có trong nước thải dệt nhuộm, máu nhuộm là thành phần khó xử lý nhất, đặc biệt là màu nhuộm azo không tan — loại màu nhuộm được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, chiếm 60 — 70% thị phần. Thông thường, các chất mảu có trong màu nhuộm không bám dính hết vào sợi vải trong quá trình nhuộm mà bao giờ cũng còn lại một lượng dư nhất định tổn tại trong nước thải.

Lượng màu nhuộm đư sau công đoạn nhuộm có thê lên đến 50% tổng lượng màu nhuộm được sử dụng ban đầu [54]. Day chính là nguyên nhân làm cho nước thải dệt nhuộm có độ mau cao, vả nông độ chât ô nhiêm lớn. Giới thiệu về màu nhuộm Cac hop chat hap thụ năng lượng điện từ trong phạm vi nhìn thấy được (~ 350 — 700 nm) là những chất có màu và những hợp chất có màu này chủ yếu được gọi là mau nhuộm [26]. Theo báo cáo tiêu thy mau nhuộm thế giới năm 2017, các nước châu Á đang sử dụng ~75% tổng lượng màu nhuộm tông hợp được sản xuất, trong đó Trung Quốc và Ân Độ là hai nước tiêu thụ hàng đầu.

Người ta ước tính rằng hơn 10.000 loại màu nhuộm và chất màu đang được tiêu hủy trong môi trường với sản lượng hàng năm của chúng là hơn 7 x 10° tấn [6]. Các ngành công nghiệp dệt nhuộm sử dụng rộng rãi màu nhuộm chủ yếu do khả năng liên kết với các sợi đệt của chúng thông qua hình thức liên kết cộng hóa trị. Hơn nữa, màu nhuộm là những chất gây ô nhiễm không chỉ độc hại mà còn có thể làm thay đổi mảu sắc của nước thải [39]. Sự tồn tại của màu nhuộm, ngay cá ở nông độ thấp cũng làm giám độ trong của nước và do đó, làm giảm quá trình quang hợp và gây ra sự phân hủy ky khí trong nước [6].

Màu nhuộm có thê có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp. Đặc điểm nổi bật của các loại màu nhuộm là độ bền màu và tính chất không bị phân hủy. Màu sắc của màu nhuộm có được là do cấu trúc hóa học: một cách chung nhất, cầu trúc mảu nhuộm bao gồm nhóm mang mảu và nhóm trợ màu [54]: - Nhóm mang màu là những nhóm chứa các nối đôi liên hợp với hệ điện tử z không cổ định như: - C =€ -,-C=NÑ-,-NÑ=N -,- NO¿. - Nhóm trợ màu là những nhóm thế cho hoặc nhận điện tử như: - NHa, - COOH, - SO:H, - OH.

đóng vai trò tăng cường màu của nhóm mang màu bằng cách dịch chuyển năng lượng của hệ điện tử. Màu nhuộm azo là loại màu nhuộm được sử dụng nhiều nhất và chiếm hơn 60% tông số mảu nhuộm. Khoảng 70% tất cả các loại màu nhuộm được sử dụng trong công nghiệp là màu nhuộm azo [4]. Hầu hết các màu nhuộm azo được sử dụng để nhuộm các chất nền khác nhau chủ yếu ở dạng hợp chất mono — azo, có đơn vị cầu trúc chung là nhóm mang mảu azo (- N =N -) thường được liên kết bởi hai hệ phân tử thơm vả ngành công nghiệp dệt may được coi là ngành tiêu thụ màu nhuộm azo lớn nhất.

Các phân tử màu nhuộm có cấu trúc đị vòng có sự dịch chuyên sắc tổ rõ rệt va chúng không chỉ được sử dụng như mục đích tạo màu mả còn được sử dụng rộng rãi cho các ứng dụng điều trị khác nhau như thuốc sát trùng, kháng khuẩn, chống tiêu đường, chống ung thư, chất chống oxy hóa, giảm đau, chống viêm. Ngoài mục đích nhuộm và điều trị, các hợp chất azo còn tham gia vào một loạt các phản ứng sinh học như ức chế tổng hop DNA, RNA va protein, chat sinh ung thư và cố định nitơ. Màu nhuộm azo cũng được ứng dụng trong việc tây sợi dệt, nghiên cứu y sinh và tổng hợp hữu cơ tiên tiễn [26]. Nhóm hỏa tan trong nước | Auxochrome ~~ 8O;CH,CH,0SO,Na NaO,SOH,CH,CO,S— ~~, = > fy | | OH NH, - N ] = A /N Nhóm mang màu NaO,S“.À“ 4 'SOạNa, bo Bộ khung `— Nhóm hòa tan trong nước Hình 1.

Cấu trúc hóa học của màu nhuém Reactive Azo [4] 1. Màu nhuộm Reactive Orange 16 Reactive Orange 16 (RO16) la m6t loại màu nhuộm anion, thuộc lớp màu nhuộm azo có gốc điazenyl (-[[2(sulphonatooxy)ethyl]phenyl) gắn ở vị trí 2 của naphtalen đa thế. Nó là một hợp chất azo, một sulfone và một muối natri hữu cơ. Nó 10 chứa một remazole cam - 3R (2-).

Nó có thể được phân hủy sinh học bằng men Consorttum Spp. Màu nhuộm ROI6 thuộc nhóm màu nhuộm viny]sulfone vả nó được sử dụng để nhuộm sợi xenlulo. Tên thông thuong: Remazol Brilliant Orange 3R. Tén IUPAC: 6 — acetamido — 4 — hydroxy—3-[[4-(2 sulfonatooxyethylsulfonyl) phenyl] diazenylJnaphthalene-2-sulfonate.

Khối lượng phân tử: 617,54 g/mol. Công thức hóa hoc: C2oH 17N3Na201183 Công thức cấu tạo: 0 o ON TT: CO NZN " OH °S—“~O-S-ONa 2 O° © Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ