CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực linh kiện, cảm biến điện tử, tụ điện tích trữ năng lượng v. vật liệu sắt điện nói chung và vật liệu sắt điện không chì Bi0,5(NaK)0,5TiO3 (BNKT) nói riêng đã và đang nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học bởi tính chất sắt điện, áp điện cũng như hằng số điện môi cao của vật liệu này. Nguồn gốc gây nên hệ số biến dạng lớn của vật liệu sắt điện BNKT được tìm thấy tại biên pha hình thái (MBP) do sự chuyển pha từ pha tứ giác sang pha hình thoi hay do cơ chế quay domain.
Các tạp chất hoặc pha A’B’O3 thứ hai có vai trò như một dung dịch rắn làm thay đổi cấu trúc tinh thể BNKT, tạo ra các sai hỏng dẫn đến cải thiện tính chất sắt điện. Trong chương này, luận văn tập trung trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết tính chất của vật liệu sắt điện, tình hình phát triển cũng như ảnh hưởng của tạp chất và các pha perovskite A’B’O3 lên tính chất của vật liệu BNKT. Kết quả này sẽ mở ra các phương hướng nhằm cải thiện và nâng cao tính chất của vật liệu sắt điện không chì. Vật liệu sắt điện và tính chất của vật liệu sắt điện 1.
Vật liệu sắt điện Vật liệu sắt điện là vật liệu điện môi có độ phân cực điện tự phát ngay cả khi không có điện trường ngoài. Dưới tác dụng của điện trường ngoài, độ phân cực điện tự phát có thể được tái định hướng. Số lượng vật liệu sắt điện là rất lớn, theo E. Hellwege con số này có thể lớn hơn 600 vật liệu, một số vật liệu sắt điện điển hình được trình bày bảng 1.1 dưới đây [2]: Bảng 1.
Một số vật liệu sắt điện điển hình 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nhiều vật liệu sắt điện được phát hiện, chỉ có một số lượng nhất định các cấu trúc là phù hợp đáp ứng được yêu cầu thương mại. Bốn kiểu cấu trúc tinh thể có tính chất sắt điện được quan tâm là [2, 4]: i. Cấu trúc kiểu pe-rov-skit (perovskite) ABO3 là dạng cấu trúc phổ biến nhất với các đại diện là BaTiO3 (BTO), PbTiO3 (PT), PbZrO3 - PbTiO3 (PZT), (Pb,La)(Zr,Ti)O3 (PLZT), Pb(Mg1/3Nb2/3)O3 (PMN) (hình 1.1a) hay LiNbO3, LiTaO3 và (K,Na)NbO3 (hình 1. Cấu trúc kiểu đồng – von-fram (hình 1.
Cấu trúc kiểu py-ro-clo (pyrochlore), nhóm này thì ít được nghiên cứu, điển hình như pyrochlore Ti2Yb2O7 (hình 1. Cấu trúc kiểu lớp bi-smut (hình 1.1e), đại diện là SrBi2Ta2O9 (SBT). Một số kiểu cấu trúc vật liệu sắt điện: (a) Cấu trúc tinh thể pe-rov-skit ABO3 trong pha lập phương, (b) Cấu trúc pe-rov-skit của LiNbO3 và LiTaO3, (c) Cấu trúc kiểu đồng von-fram (A1)2(A2)4(C)4(B1)2(B2)8O30, (d) Cấu trúc kiểu py-ro-clo như pyrochlore Ti2Yb2O7, (e) Cấu trúc kiểu lớp bi-smut của SrBi2Ta2O9 (SBT) 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong mỗi kiểu cấu trúc này, tính sắt điện gắn liền với sự méo dạng của đa diện sắp xếp bởi các ca-ti-on. Phần lớn các vật liệu sắt điện có sự chuyển pha cấu trúc sắt điện ở nhiệt độ thấp sang pha cấu trúc thuận điện ở nhiệt độ cao hơn.
Nhiệt độ chuyển pha thường được gọi là nhiệt độ Curie, Tc. Phần lớn các vật liệu sắt điện có cấu trúc perovskite (dạng ABO3) được quan tâm nghiên cứu do chúng linh động trong việc chế tạo cũng như thay thế giữa các nguyên tố. Perovskite là tên gọi chung của các vật liệu có cấu trúc giống với cấu trúc của canxi titanat (CaTiO 3 ), được đặt theo tên gọi của nhà khoáng học người Nga là L. Cấu trúc perovskite lý tưởng thì ô mạng cơ sở là hình lập phương với các hằng số mạng a = b = c và α = β = γ = 90o.
Các cation A nằm ở vị trí có số phối vị 12 với các ion lân cận là anion oxy. Các cation B nằm tại tâm. Cấu trúc tinh thể thay đổi từ lập phương sang dạng khác như trực giao hay trực thoi khi các ion A và B bị thay thế dần bởi các nguyên tố khác. Đặc trưng của cấu trúc perovskite là tồn tại bát diện BO6 nội tiếp ô mạng cơ sở với 6 anion oxy tại các đỉnh bát diện và 1 cation B nằm tại tâm bát diện như hình 1.2 dưới đây: Hình 1.
(a) Ô cơ sở Perovskite lập phương và (b) Mạng ba chiều của BO6 Phần lớn các kiểu perovskite có cấu trúc lập phương ở pha thuận điện. Đối với chúng thừa số cấu trúc t nằm ở trong khoảng 0,9 – 1,05 và hằng số mạng a gần bằng 4Å. Thừa số cấu trúc t được đề xuất đâu tiên bởi Goldschmidt vào năm 1926 với công thức: (𝑅𝐴 + 𝑅𝑂 ) t= (1.1) √2 (𝑅𝐵 + 𝑅𝑂 ) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó: RA, RB và RO lần lượt là bán kính ion của các vị trí A, B và O của cấu trúc perovskite. Ngoài ra, còn một số hợp chất có cấu trúc như cấu trúc perovskite lập phương nhưng nén mạng, được gọi là cấu trúc giả đối xứng.
Cấu trúc giả đối xứng xuất hiện do sự dịch chuyển không lớn của các nguyên tử từ vị trí của chúng trong mạng có đối xứng cao. Các hợp chất có cấu trúc giả đối xứng là thể hiện tính chất sắt điện [4]. Một trong những vật liệu quan trọng nhất là dung dịch rắn dị nguyên PbTiO3- PbZrO3 (PZT). Sự chuyển pha không sắt điện – sắt điện (P-E) và sắt điện – sắt điện có thể được xem như là do sự méo cấu trúc perovskite [2].
Cấu trúc của vật liệu Pb(Zr1-xTx)O3 (PZT) này phụ thuộc lớn và nhiệt độ và tỉ lệ thành phần Zr:Ti. Trong trường hợp nhiệt độ cao hơn nhiệt độ chuyển pha Tc (có giá trị trong khoảng 230oC đến 490oC), vật liệu PZT là pha thuận điện có cấu trúc lập phương (m3m). Khi nhiệt độ làm nguội dưới nhiệt độ Tc, PZT chuyển từ pha thuận điện sang pha sắt điện. Cấu trúc tinh thể của pha sắt điện được xác định bởi tỉ lệ thành phần Zr:Ti.
Khi tỉ lệ PbTiO3 trong vật liệu PZT tăng, cấu trúc PZT có thể là trực thoi, tứ giác hoặc mặt thoi. Giản đồ pha của hệ vật liệu Pb(Zr1-xTx)O3 (PZT) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên giản đổ pha hình 1.3 ta thấy, tỉ lệ hợp phần x nằm trong khoảng 0,45 < x < 0,5, hệ tồn tại ở pha có cả hai cấu trúc mặt thoi và cấu trúc tứ giác. Pha ở trạng thái này được gọi là biên pha hình thái (MBP). Tại biên pha hình thái, véctơ phân cực điện tự phát có thể định vị theo 14 hướng khác nhau.
Kết quả là tính chất sắt điện và áp điện của vật liệu này được tăng cường. Vật liệu PZT được đưa vào thương mại trên thị trường và ứng dụng rộng rãi trong chế tạo linh kiện cảm biến và truyền động áp điện do có hệ số áp điện cao (d33 vào khoảng 250-400 pC/N tùy loại) và nhiệt độ chuyển pha lớn [2]. Vật liệu sắt điện được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như chế tạo tụ điện do có hằng số điện môi cao như BaTiO3, hay tụ sắt điện Pb(Zr1-xTx)O3, SrBi2Ta2O9, làm các linh kiện chuyển đổi năng lượng điện cơ với vật liệu có hệ số áp điện lớn như Pb(Zr1- xTix)O3, chế tạo các linh kiện hỏa điện trên cơ sở PbTiO3 hay (Sr,Ba)Nb2O6 hay ứng dụng trong các linh kiện điện- quang tử sử dụng LiNbO3 v. Hiện tượng phân cực sắt điện Tính chất sắt điện là một thuộc tính vật lý của vật liệu điện môi có tồn tại độ phân cực điện tự phát (véctơ phân cực điện tự phát) ngay cả khi không có điện trường ngoài.
Vật liệu sắt điện là vật liệu cực (polar materials) với véctơ phân cực điện tự phát có ít nhất hai định hướng thương đương cân bằng, trong điều kiện không có tác dụng của điện trường ngoài. Véctơ phân cực điện tự phát có thể chuyển trạng thái giữa các hướng đó dưới tác dụng của điện trường [2]. Đại lượng đặc trưng cho mức độ phân cực của vật liệu điện môi là véctơ phân cực điện P hay còn gọi là độ phân cực điện. Độ phân cực điện có giá trị bằng tổng các mômen lưỡng cực điện trong một đơn vị thể tích: ∑n 1 𝑝𝑖 𝑃⃗ = (1.2) V ⃗ là véctơ phân cực điện (C/m2), 𝑝𝑖 là véctơ moomen lưỡng cực điện và Trong đó, 𝑃 V là thể tích của tinh thể.
Vật liệu sắt điện là một dạng của vật liệu điện môi. Véctơ phân cực Pi (C/m2) đại lượng được hình thành trong vật liệu cách điện, có thể phân cực do điện trường ngoài Ej (Vm-1) được cho bởi phương trình [2, 4]: Pi = χijEj (1.3) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó χij (Fm-1) là tenxơ hạng hai được gọi là độ cảm điện môi của vật liệu. Phương trình (1.3) chỉ áp dụng đối với vật liệu tuyến tính hoặc trong giới hạn tuyến tính của vật liệu phi tuyến và, nhìn chung, Pi phụ thuộc vào số hạng bậc cao của điện trường. Mật độ điện tích bề mặt toàn phần trong vật liệu gây bởi điện trường ngoài được cho bởi véctơ cảm ứng điện Di (Cm-2): Di = εoEi+ Pi (1.854 x 10−12 Fm-1 là hằng số điện môi của chân không.4) ta có: Di = εo Ei+ χijEj = εoδijEj + χijEj = (εoδij + χij)Ej = εijEj (1.
Đối với vật liệu sắt điện thì εoδij << χij và do đó εij ~ χij. Trong thực nghiệm, hằng số điện môi tương đối κij = εij/εo, cũng được biết như là hằng số điện môi của vật liệu, được sử dụng thường xuyên hơn so với hằng số điện môi [2, 4]. Domain sắt điện Trong tinh thể sắt điện, véctơ phân cực tự phát thường không được sắp xếp đồng nhất theo cùng một hướng. Cụ thể, ta xét vật liệu sắt điện PbTiO3 điển hình.
Véctơ phân cực tự phát trong PbTiO3 nằm dọc theo trục cT của ô đơn vị tứ giác và sự méo tinh thể thường được mô tả là sự dịch chuyển của các ion O và Ti so với Pb. Trong pha sắt điện, tinh thể bị biến dạng tự nhiên với aT ≤ aC < cT với aT và aC là trục a của ô đơn vị tương ứng với pha tứ giác và pha lập phương như hình 1. Cấu trúc perovskite ABO3 của PbTiO3 với cấu trúc lập phương trong pha thuận điện và cấu trúc tứ giác trong pha sắt điện [19]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét trong ô lập phương, sáu hướng (bao gồm cả hướng âm và dương) dọc theo ba trục aC là tương đương nhau, và véctơ phân cực tự phát có thể phát sinh với xác suất như nhau dọc theo bất kỳ hướng nào khi tinh thể bị làm lạnh tới nhiệt chuyển pha sắt điện.