PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Hoạt động KTĐL có vai trò to lớn trong nền kinh tế thị trường. KTĐL trong đó có kiểm toán BCTC trước hết được xem như một công cụ để bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế thông qua ý kiến kiểm toán và các khuyến cáo chuyên môn cần thiết phục vụ cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. Đồng thời, các KTV độc lập thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể đưa ra những ý kiến tư vấn giúp DN hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung.
Tuy nhiên, vụ phá sản của tập đoàn năng lượng Enron cùng sự sụp đổ của công ty kiểm toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen năm 2002 làm dấy lên sự lo ngại về CLKT BCTC. Tiếp sau sự sụp đổ của Arthur Andersen là hàng loạt các vụ bê bối khác đã được phát hiện, như: vụ gian lận kế toán của Health South năm 2003 khi thực hiện việc sửa chữa phóng đại các số liệu doanh thu, lợi nhuận trong số sách kế toán để che mắt các nhà đầu tư; vụ phá sản của công ty viễn thông Worldcom năm 2005 sau khi các gian lận kế toán, che giấu tình trạng tài chính suy yếu, giả mạo tăng trưởng để nâng giá cổ phiếu bị phát hiện hay vụ gian lận kế toán của tập đoàn công nghệ Olympus năm 2011 khi thừa nhận đã sử dụng một loạt các thương vụ mua lại nhằm che giấu kết quả làm ăn thua lỗ của họ. Các vụ việc trên dẫn đến giảm lòng tin của các nhà đầu tư vào vai trò của KTĐL trong việc xác nhận độ tin cậy của thông tin tài chính và vì vậy vấn đề đảm bảo CLKT BCTC trở nên thực sự cấp thiết. Tại Việt Nam, từ khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý (năm 1986) từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, do tính đa dạng của các chủ thể và các hoạt động trong nền kinh tế đòi hỏi phải có dịch vụ KTĐL.
Để đáp ứng nhu cầu kiểm tra số liệu kế toán và thực trạng tài chính của các DN, ngày 13/5/1991 Bộ Tài chính đã ký hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) (nay là Công ty TNHH Deloitte Việt Nam) và Công ty Dịch vụ Kế toán Việt Nam (ASC) (nay là Công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC)… Sau hơn 20 năm phát triển, số lượng và quy mô các DNKT ngày càng phát triển lớn mạnh, góp phần tích cực vào việc công khai, minh bạch thông tin kinh tế tài chính DN và tổ chức, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển hàng trăm năm 2 trên thế giới, thị trường KTĐL tại Việt Nam vẫn còn non trẻ, hệ thống luật pháp chưa thực sự đầy đủ, trình độ và kinh nghiệm của KTV còn chưa cao cũng như có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty kiểm toán bằng cách hạ giá phí kiểm toán dẫn đến việc các công ty kiểm toán phải cắt giảm thời gian kiểm toán và các thủ tục kiểm toán, điều này sẽ làm tăng rủi ro kiểm toán, giảm CLKT. Những vi phạm của KTV và các công ty kiểm toán đã bị xử lý và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng như vụ Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (2008), vụ Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông (2011) hay hàng loạt các công ty KTĐL đã bị Bộ Tài chính nêu tên cảnh báo vì không đạt điều kiện hoạt động dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật KTĐL cho thấy để đảm bảo vai trò của KTĐL thì CLKT là một vấn đề cần phải được quan tâm hàng đầu. Bên cạnh đó, ngoài vai trò là công cụ quản lý kinh tế, KTĐL còn là một loại hình kinh doanh dịch vụ được pháp luật thừa nhận.
Để có thể duy trì và phát triển thị trường, thu hút được khách hàng, bên cạnh việc đảm bảo chất lượng xét trên góc độ về chuyên môn thì các công ty KTĐL cũng cần nâng cao chất lượng xét theo khía cạnh CLDV theo hướng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Bởi vậy, việc xem xét CLDV kiểm toán dưới góc nhìn của khách hàng cũng hết sức cần thiết. Theo số liệu được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết của Bộ Tài chính và Hội KTV hành nghề Việt Nam (VACPA), xét theo cơ cấu khách hàng đối với ngành KTĐL, doanh thu từ các đối tượng khách hàng là các DN FDI luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn đạt mức từ 40-50% tổng doanh thu toàn ngành. Xét theo tiêu chí doanh thu bình quân trên một khách hàng thì doanh thu từ đối tượng khách hàng là các DN FDI cũng luôn vượt trội so với các đối tượng khách hàng khác và so với bình quân chung toàn ngành.
Có thể khẳng định, các DN FDI là đối tượng khách hàng tiềm năng nhất của ngành KTĐL Việt nam. Không chỉ có những đóng góp to lớn với ngành KTĐL mà các DN FDI còn có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam qua gần 30 năm hoạt động: góp phần tăng thu ngân sách, là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, giúp Việt Nam nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới cũng như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao mức sống cho người lao 3 động. Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu có xu hướng ngày càng tăng trong các năm gần đây (năm 2010 là 54.
Và trong năm 2015 đạt mức 114.3 tỷ USD, chiếm 70.5% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu của khu vực FDI năm 2015 đạt 97.9 tỉ đô la Mỹ, chiếm 59.2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Theo Tổng cục Thống kê, tính lũy kế đến 31/12/2015, tổng số dự án FDI tại Việt Nam là 21,392 dự án với tổng vốn đăng ký là 314,707.7 triệu USD, tỷ lệ đóng góp vào GDP tăng hàng năm, năm 1995 tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực FDI chỉ đạt 6. Lao động làm việc trong các DN FDI tại thời điểm 31/12/2015 trên 3.6 triệu người, gấp gần 9 lần năm 2000, trong đó DN 100% vốn nước ngoài chiếm gần 92% (năm 2000 là 70.2%), DNLD với nước ngoài chiếm 8% (năm 2000 là 29.8%), bình quân mỗi năm thu hút thêm 216.5 nghìn lao động, góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm của nền kinh tế.
Từ những đóng góp quan trọng của các DN FDI đối với ngành KTĐL cũng như đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, có thể thấy việc nâng cao CLDV kiểm toán nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng đối với loại hình DN này không chỉ đảm bảo việc duy trì và phát triển khách hàng cho ngành KTĐL, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các DN FDI hoạt động tại Việt Nam, từ đó góp phần tạo ra sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân. Theo đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” cho luận án tiến sỹ của mình để đánh giá CLKT BCTC của các DN FDI dưới cả góc độ chuyên môn nghề nghiệp và góc độ CLDV từ đó giúp KTV và công ty kiểm toán có những quyết định, những điều chỉnh phù hợp để nâng cao CLKT BCTC trên cả hai góc độ này. Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu 2. Các nghiên cứu ở nước ngoài 2.
Các nghiên cứu về đánh giá chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán là một trong những chủ đề quan trọng nhất trong các nghiên cứu về kiểm toán (Kit, 2005). Tuy nhiên, đánh giá chất lượng kiểm toán lại không hề dễ dàng. Trong khi lý thuyết về kiểm toán có thiên hướng ủng hộ cho các 4 nhận định cho rằng chất lượng kiểm toán được thực hiện bởi các hãng kiểm toán lớn thường cao hơn so với các hãng kiểm toán nhỏ, thì có rất ít các bằng chứng thực nghiệm cho thấy chất lượng kiểm toán là khác nhau giữa các hãng kiểm toán khác nhau về quy mô. Vì quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán là không thể quan sát được bởi bên thứ ba (Krishnan và Schauer, 2000), nên trong các nghiên cứu thực nghiệm các nhà nghiên cứu đã lựa chọn hai phương pháp để đo lường chất lượng kiểm toán, đó là: phương pháp trực tiếp và/hoặc phương pháp gián tiếp.
Phương pháp đo lường trực tiếp CLKT BCTC là phương pháp đánh giá CLKT từ chính quá trình kiểm toán của KTV. Phương pháp này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào nhóm kiểm toán như các KTV độc lập, hoặc được quyền trực tiếp truy cập vào các giấy tờ làm việc và hồ sơ kiểm toán của KTV, hoặc được tham gia vào kiểm tra chéo (peer review) việc thực hiện quá trình kiểm toán có liên quan đến từng hợp đồng kiểm toán cụ thể (Carlin và cộng sự, 2009). Như vậy, nếu sử dụng phương pháp trực tiếp, CLKT sẽ được đo lường bởi: (chất lượng của) KSCL kiểm toán (Donald & Giroux, 1992), quá trình kiểm toán của KTV (Sutton & Lampe, 1991), chất lượng kiểm tra chéo (Colber & Murray, 1998), chất lượng thực hiện các thủ tục kiểm toán (Blokdijk và cộng sự, 2006), và ý kiến của KTV về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng (Geiger và Raghunandan, 2002). Theo các tác giả nghiên cứu đo lường CLKT theo phương pháp trực tiếp thì phương pháp này thường khó thực hiện và đòi hỏi chi phí cao.
Bên cạnh đó, điểm bất lợi nhất của phương pháp trực tiếp là CLKT chỉ được đánh giá sau khi DNKT đã hoàn tất quá trình kiểm toán, do vậy các kết luận về chất lượng thường không kịp thời, không giúp cho DNKT hoặc người sử dụng thông tin tránh được rủi ro; hậu quả vì thế sẽ không được ngăn chặn.