Đặt vấn đề Cây ăn quả có múi (Citrus sp.) hay cây có múi thuộc họ: Rutaceae, bộ: Sapindales là cây trồng có nguồn gốc từ vùng khí hậu cận nhiệt và nhiệt đới ở đông nam châu Á. Cây có múi được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên Thế giới từ những nước có khí hậu phù hợp ở Nhiệt đới cho đến cả những quốc gia thuộc khí hậu Ôn đới. Tại Việt nam, với khí hậu và điều kiện thổ nhưỡng thích hợp nên cây có múi được trồng phổ biến ở khắp các tỉnh địa phương trải dọc từ Bắc đến Nam. Hiện nay cây có múi được xác định là cây ăn quả quan trọng nhất trong hệ thống cây trồng của đất nước, là cây có giá trị kinh tế cao và ổn định.
Trong họ cây có múi gồm có rất nhiều các loài cây như cam, chanh, quất, bưởi và nhiều loài khác. Trong đó cam (Sinensis) và bưởi (Pomelo) là những cây được trồng rộng rãi nhất tại Việt nam. Trong đó, có rất nhiều địa phương nổi tiếng với những giống cam và bưởi đặc sản bưởi có hương vị độc nhất như: Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Diễn, Cam Hàm Yên, Cam Cao Phong, Cam Vinh….Trong cây có múi có chứa hàm lượng các vitamin cao như B1, B2, A, đặc biệt hàm lượng vitamin C rất cao có lợi cho sức khỏe nên rất được ưa chuộng. Trên cây có múi xuất hiện nhiều bệnh với nhiều tác nhân gây ra, gây hại cho cây ở nhiều bộ phận khác nhau, gây hại ở nhiều giai đoạn sinh trưởng của cây.
Bênh vàng lá gân xanh có tên khoa học Huanglongbinh (HLB) do vi khuẩn Liberobacter Asiaticus và bệnh Tàn lụi do Citrus Tristeza Virus (CTV) là 2 bệnh gây ra thiệt hại nghiêm trọng trên cây có múi cả về sản lượng và chất lượng nông sản.HLB được ghi nhận lần đầu tiên tại Trung Quốc năm 1929, tại Nam Phi năm 1939 và bệnh lần đầu xuất hiện tại Việt nam năm 1960 và kể từ đó đã xuất hiện 2 đợt bùng dịch ở nước ta (H. Trong khi đó, bệnh CTV bắt đầu gây hại vào những năm 1930 tại các quốc gia Nam Mỹ, bệnh làm chết hơn 50 triệu gốc ghép cam chua trước khi được phát hiện (Lee, Baker et al. Tại Việt nam, bệnh CTV gây hại nghiêm trọng đến các diện tích trồng cây có múi, đặc biệt là cam trên các vùng trồng cam khắp cả nước. Cùng với HLB thì CTV làm cản trở việc mở rộng diện tích trồng và thiệt hai lớn về kinh tế.
Hiện nay có một số phương pháp chẩn đoán bệnh HLB và CTV: Chẩn đoán dựa vào triệu chứng, dấu hiệu bệnh tuy dễ dàng nhưng có đọ chính xác không cao và dễ nhầm lẫn. Chẩn đoán bằng PCR (Đối với HLB), RT-PCR (Đối với CTV) tuy rằng có độ chính xác cao và có thể định lương nhưng quá trình thực hiện khá phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn và có trang thiết bị hiện đại. Chẩn đoán bằng ELISA đơn giản hơn PCR, với giá thành hạ cho kết quả chính xác cao nhưng cần có kháng thể đặc hiệu cho CTV, nhưng giá thành của kháng thể đặc hiệu này khá cao. Trên Thế giới, kít chẩn đoán bệnh HLB đã được thương mại nhưng giá thành rất cao, trong khi đó Việt nam vẫn chưa có nghiên cứu nhằm tạo ra kít chẩn đoán của bệnh này.
Tại Việt nam yêu cầu về một phương pháp chẩn đoán HLB và CTV cho kết quả nhanh, chính xác và đơn giản là vô cùng cần thiết. Yêu cầu sản xuất que thử nhanh là rất hữu ích đối với việc chẩn đoán 2 bệnh hại nguy hiểm này. Để làm được điều này, trước tiên cần sản xuất được kháng thể đặc hiệu cho HLB và CTV. Để có thể tạo được kháng thể đa dòng thì trước tiên cần phải tạo được kháng nguyên tái tổ hợp của CTV và HLB và biểu hiện thành công để có thể thu được.
Do tính cấp thiết và những áp dụng to lớn khi tạo được kháng thể đa dòng đặc hiệu của HLB và CTV nên tôi cùng với sự hướng dẫn tiến hành đề tài: “NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH (Candidatus Liberibacter Asiaticus) VÀ BỆNH TÀN LỤI (Citrus Tristeza Virus) TRÊN CÂY CÓ MÚI BẰNG KỸ THUẬT MIỄN DỊCH”. Mục đích và nội dung nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu Tạo được kháng thể đa dòng của thỏ từ kháng nguyên đặc hiệu nhằm chẩn đoán bệnh vàng lá gân xanh (Ca. L) và bệnh tàn lụi (CTV).
Nội dung nghiên cứu Tạo được kháng nguyên tái tổ hợp của CaLas và CTV trong dòng vi khuẩn E. Coli Rosseta dựa trên cấu trúc biểu hiện gene mã hóa OMP cùa Ca. L và CP của CTV. Gây miễn dịch trên thỏ từ kháng nguyên tái tổ hợp đã biểu hiện của Ca.
Đánh giá tính đặc hiệu và hiệu giá của kháng thể thu được từ thỏ bằng các kỹ thuật miễn dịch ELISA và lai phân tử (Dot-Blot). TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng Quan Cây Có Múi 2. Về nguồn gốc: Cây có múi có nguồn gốc từ đâu hiện vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng theo một số nhà khoa học cho rằng các giống cam quýt trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng cận nhiệt và nhiệt đới ở châu Á (Tanaka,1954).
Tanaka đã vạch ra ranh giới của giống thuộc chi citrus từ phía đông Ấn Độ qua Úc, miền nam Trung Quốc và Nhật Bản. Trần Thế Tục cho rằng nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc cách đây 3000 – 4000 năm trước (Thế,1980). Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Lour) là ở miền Nam Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam ta từ bắc chí nam ở vùng nào cũng có trồng cam sành với nhiều vật liệu giống với các tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có như: cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên, Yên Bái, Cam sen Yên Bái, Cam sen Đình Cả - Bắc Sơn, cam bù Hà Tĩnh Sau đó được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, miền nam nước Nhật, tây Ấn Độ, Địa Trung Hải, Mỹ.
Theo Tôn Thất Trình (1995) bưởi có nguồn gốc ở Ấn Độ. Như vậy các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về nguồn gốc thấy rằng: Bưởi có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á thuộc vùng khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới nóng (Trình,1995). Phân loại: Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: vòng di thực và khả năng thích ứng rộng, có rất nhiều giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt. (Hibino, Usugi et al.,1985) Chi cam, chanh (Citrus sp.) là một chi thực vật có hoa trong họ Cửu lý hương (Rutaceae), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở đông nam châu Á.
Các loại cây trong chi này là các cây bụi lớn hay cây thân gỗ nhỏ, cao tới 5–15 m tùy loại, với thân cây có gai và các lá thường xanh mọc so le có mép nhẵn. Hoa mọc đơn hay thành ngù hoa nhỏ, mỗi hoa có đường kính 2–4 cm với 5 (ít khi 4) cánh hoa màu trắng và rất nhiều nhị hoa. Hoa thông thường có mùi thơm rất mạnh. Quả là loại quả có múi, một dạng quả mọng đặc biệt, hình cầu hay cầu thuôn dài, chiều dài 4–30 cm và đường kính 4–20 cm, bên trong quả khi bóc lớp vỏ và cùi sẽ thấy lớp vỏ mỏng, dai, màu trắng bao quanh các múi bên trong chứa nhiều tép mọng nước.
Chi này có vai trò quan trọng về mặt thương mại do nhiều loài (hoặc cây lai ghép) được trồng để lấy quả. Sự phân loại nội bộ trong chi này rất phức tạp và hiện nay người ta vẫn không biết chính xác số lượng loài có nguồn gốc tự nhiên, do nhiều loài được coi là có nguồn gốc lai ghép. Các loại cây trong chi Citrus được trồng có thể là con cháu của chỉ 4 loài tổ tiên (Ashmore,2014). Tình hình sản xuất cây có múi tại Việt nam Theo Cục trồng trọt thì diện tích, sản lượng cây có múi cả nước liên tục tăng trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng cao; trong đó tại phía Bắc, trong 10 năm từ 2009 đến 2019, tốc độ tăng trưởng cây có múi bình quân 10%/năm về diện tích (tương ứng 7,3 nghìn ha/năm), 12,5%/năm về sản lượng (69,4 nghìn tấn/năm).
Cây có múi hiện là nhóm cây ăn quả có diện tích, sản lượng lớn nhất trong sản xuất cây ăn quả nước ta nói chung và các tỉnh phía Bắc nói riêng: Tổng diện tích cây có múi cả nước đến hết năm 2019 đạt 256,86 nghìn ha, chiếm 24,07% tổng diện tích cây ăn quả; tiếp theo lần lượt là nhóm nhãn, vải, chôm chôm (14,97%); chuối (14,06%); xoài (9,83%).; Tổng sản lượng quả có múi đạt hơn 2,46 triệu tấn; tiếp theo lần lượt là chuối (2,2 triệu tấn); thanh long (1,25 triệu tấn); vải, nhãn, chôm chôm (1,15 triệu tấn)…. Riêng các tỉnh phía Bắc: tổng diện tích cây có múi 121,97 nghìn ha, chiếm 47,5% so cả nước; chiếm 29,09% so tổng diện tích cây ăn quả Miền Bắc.Tổng quan về bệnh vàng lá gân xanh (HLB) 2. Lịch sử và phân bố bệnh vàng lá gân xanh Bệnh vàng lá gân xanh được ghi nhận đầu tiên ở đông nam Trung Quốc vào năm 1919. Vào năm 1921, Theo một số báo cáo bệnh xuất hiện tại philipin nhưng bị nhầm lẫn với triệu chứng thiếu kẽm.
Tại miền nam châu Phi bệnh xuất hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như chổi vàng (Yellow shoot) hay Greening và vào năm 1937 lần đầu tiên HLB được mô tả và tính độc và giả thiết cơ chế gây bệnh.Từ năm 1941 – 1955 các nghiên cứu về HLB được tiến hành mở rộng ở đông nam Trung Quốc. Năm 1960 bệnh xuất hiện lần đầu tiên tại Thái Lan. Năm 1965, một số nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh được truyền qua gốc ghép và bời 1 loài rầy châu Phi (Trioza erytreae) gây hại trên họ cây có múi. Tại Philipin và Ấn Độ vào năm 1966 , một số nhà nghiên cứu nhận thấy rằng có sự giống nhau giữa các triệu chứng là lốm đốm và bệnh gây chết cây có múi do HLB ở Đài Loan, Trung Quốc và bệnh vàng lá ở Châu Phi.
Các nhà khoa học ở Philipin đã chứng minh rằng lá lốm đốm (mottle leaf) và gây chết cây có múi (citrus dieback) được truyền bở rầy chổng cánh châu Á (Diaphorina citri).Năm 1998, rầy chổng cánh châu Á xuất hiện tại Florida, Mỹ. Bệnh xuất hiện tại Brazil vào năm 2004. Năm 2005, bệnh được ghi nhận tại Florida (Bové,2006). Hiện nay bệnh đã được ghi nhận ở hơn 40 quốc gia trên toàn Thế giới trải dài từ châu Á, châu Phi châu Mỹ.