Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh sở hữu diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn với trên 16.000 ha, chiếm tới 64% tổng diện tích tự nhiên của toàn thành phố (khoảng 25.594,03 ha). Mặc dù có tiềm năng phát triển lâm nghiệp rất cao, diện tích rừng tự nhiên tại địa phương lại đang suy giảm nghiêm trọng về cả diện tích lẫn chất lượng. Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy toàn thành phố chỉ còn 4.284,82 ha rừng tự nhiên, trong đó tỷ lệ rừng thứ sinh nghèo kiệt chiếm trên 80% tổng diện tích. Thực trạng này khiến hệ sinh thái rừng chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về cung cấp lâm sản hàng hóa cũng như vai trò phòng hộ môi trường đầu nguồn.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là phần lớn diện tích rừng thứ sinh nghèo tại địa phương đã được áp dụng giải pháp khoanh nuôi bảo vệ từ những năm 1997 nhưng thiếu các đánh giá khoa học định lượng về khả năng tự phục hồi cũng như các can thiệp lâm sinh sau khoanh nuôi. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định rõ các đặc điểm lâm học cơ bản về địa hình, thổ nhưỡng, cấu trúc quần xã thực vật rừng và quy luật tái sinh tự nhiên của các trạng thái rừng thứ sinh nghèo gồm IIA, IIB và IIIA1. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng và lựa chọn các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tối ưu nhằm phục hồi rừng bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại phường Bắc Sơn và phường Vàng Danh thuộc thành phố Uông Bí, tập trung ở các đai độ cao dưới 500m so với mực nước biển trong giai đoạn 2009-2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để chuyển hóa các trạng thái rừng thứ sinh nghèo thành rừng có năng suất cao, hướng tới trữ lượng gỗ đích 150 m3/ha và tỷ lệ cây phẩm chất tốt đạt trên 60%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết cấu trúc quần xã thực vật rừng nhiệt đới của Richards và hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng. Đồng thời, đề tài kế thừa lý thuyết động lực học tái sinh rừng tự nhiên của Baur và Van Steenis, kết hợp với phương pháp xác định các chỉ tiêu kỹ thuật trong nuôi dưỡng rừng hỗn loài khác tuổi do Phạm Văn Điển và Phạm Xuân Hoàn phát triển năm 2011.

Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm:

  1. Lâm phần: Đơn vị sinh thái rừng cơ bản có sự đồng nhất tương đối về điều kiện lập địa, cấu trúc và quy luật sinh trưởng.
  2. Chỉ số giá trị quan trọng (IV%): Đại lượng biểu thị mức độ ưu thế sinh thái của từng loài cây trong tầng cây cao thông qua tỷ lệ số cây và tỷ lệ tiết diện ngang.
  3. Cây tái sinh có triển vọng (TSTV): Những cây tái sinh thuộc nhóm loài cây mục đích hoặc cây có ích, có phẩm chất từ trung bình trở lên, sinh trưởng từ nguồn gốc hạt và đạt chiều cao vút ngọn từ 2m trở lên.
  4. Hệ số hiệu quả nuôi dưỡng rừng (beta): Tỷ số giữa tổng trữ lượng quy đổi của lâm phần tại thời điểm khai thác chính và tổng thời gian cần thiết để nuôi dưỡng rừng.

Mô hình nghiên cứu áp dụng phân tích đường ảnh hưởng (Path Analysis) để lượng hóa tác động trực tiếp và gián tiếp của các nhân tố sinh thái tới mật độ cây tái sinh triển vọng, kết hợp mô hình hóa phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3) bằng các hàm phân bố toán học dạng giảm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ hệ thống 18 ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình hình chữ nhật có diện tích 1.000 m2 (kích thước 25m x 40m). Cỡ mẫu được phân bổ đều cho 3 trạng thái rừng (IIA, IIB, IIIA1), mỗi trạng thái lập 6 OTC tại 2 cấp độ dốc gồm cấp 15 đến 25 độ và cấp 26 đến 35 độ. Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản (ODB) có diện tích 25 m2 (5m x 5m) tại 4 góc và tâm ô để điều tra tầng cây tái sinh và thảm tươi cây bụi, tổng cộng thực hiện trên 90 ODB.

Phương pháp chọn mẫu điển hình vát lát được lựa chọn nhằm đảm bảo bao quát các đại diện sinh thái theo trạng thái diễn thế và địa hình chia cắt mạnh của vùng Đông Bắc. Đối với tầng cây cao, toàn bộ các cây có đường kính ngang ngực D1.3 từ 6 cm trở lên được đo đếm đường kính thân bằng thước vanh, đo chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao Blumeleiss và đo đường kính tán bằng thước dây.

Phương pháp xử lý số liệu sử dụng toán học thống kê mô tả trên phần mềm Excel 2007, tính toán các chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener (H), chỉ số Simpson (Cd), độ phong phú loài theo công thức K Jayaraman, kiểm tra phân bố không gian mặt phẳng ngang bằng hệ số Poisson (W) và kiểm định mức độ tương đồng tổ thành loài bằng hệ số Sorensen (BC). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm chuẩn hóa định lượng các mối quan hệ sinh thái phức tạp trong rừng tự nhiên nhiệt đới, loại bỏ tính chủ quan khi lập kế hoạch can thiệp kỹ thuật. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được triển khai liên tục từ năm 2009 đến tháng 9 năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về đặc điểm thổ nhưỡng, đất tại khu vực nghiên cứu là loại đất feralit phát triển trên đá mẹ sạn kết có độ dày tầng đất dao động từ 75 cm đến 121 cm, dung trọng từ 0,88 g/cm3 đến 1,13 g/cm3 và độ xốp đạt từ 57,29% đến 65,98%. Hàm lượng mùn tầng mặt đạt từ 2,90% đến 4,05%, độ chua pH H2O biến động từ 5,2 đến 6,2. Trạng thái rừng IIB có độ dày tầng đất và hàm lượng dinh dưỡng tốt nhất, trong khi tỷ lệ đá lẫn tăng dần theo độ dốc từ 16% lên đến 26%.

Thứ hai, về cấu trúc tầng cây cao, trạng thái IIIA1 chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất (67,1%), kế tiếp là trạng thái IIA (22,0%) và trạng thái IIB (10,9%). Phân bố số cây theo cấp đường kính N/D1.3 ở cả 3 trạng thái đều tuân theo dạng phân bố giảm lệch trái rõ rệt. Số lượng cây tập trung chủ yếu ở cấp đường kính nhỏ từ 6 cm đến 14 cm, chiếm trên 70% tổng số cá thể của lâm phần, trong khi các cây gỗ đạt cấp đường kính thành thục công nghệ trên 40 cm chiếm tỷ lệ rất thấp dưới 5%. Trữ lượng lâm phần hiện tại còn nghèo nàn, dao động từ 10 m3/ha đến 60 m3/ha.

Thứ ba, về đặc điểm tái sinh tự nhiên, mật độ cây tái sinh biến động trung bình từ 3.450 cây/ha đến trên 7.200 cây/ha, trong đó nguồn gốc tái sinh từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối với trên 85% tổng số cây. Tuy nhiên, sự phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao có sự mất cân đối nghiêm trọng: cấp chiều cao dưới 1m chiếm trên 65% tổng số cây tái sinh, trong khi cây tái sinh có triển vọng (chiều cao từ 2m trở lên) chỉ đạt tỷ lệ khiêm tốn từ 12% đến 18%.

Thứ tư, về các nhân tố sinh thái chi phối, kết quả phân tích hệ số đường ảnh hưởng xác nhận độ tàn che của tầng cây cao (hệ số tác động 0,35 đến 0,42) và độ che phủ của thảm tươi cây bụi (hệ số tác động âm -0,28 đến -0,36) là hai nhân tố có ảnh hưởng quyết định nhất đến mật độ cây tái sinh có triển vọng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cấu trúc lâm phần chủ yếu gồm các cây nhỏ và trữ lượng thấp bắt nguồn từ lịch sử khai thác kiệt, khai thác chọn không đúng quy trình kỹ thuật trong quá khứ kết hợp với tình trạng chặt trộm gỗ củi kéo dài trước khi đưa vào khoanh nuôi năm 1997. Sự suy giảm của tầng cây mẹ dẫn đến hiện tượng thiếu hụt nguồn hạt giống chất lượng cao, khiến tầng thảm tươi cây bụi phát triển mạnh mẽ và chèn ép sự sinh trưởng của lớp cây mạ non.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu tại huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) và Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), kết quả nghiên cứu này hoàn toàn đồng nhất về quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính dạng giảm và mật độ tái sinh hạt chiếm ưu thế. Độ tàn che tối ưu cho sự sinh trưởng của cây tái sinh gỗ mục đích được xác định trong khoảng từ 0,5 đến 0,6, nếu độ tàn che quá dày trên 0,7 hoặc quá thưa dưới 0,4 đều làm suy giảm khả năng xuất hiện cây tái sinh có triển vọng.

Cấu trúc không gian của lâm phần có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ trắc đồ đứng Richards-Davit mô tả sự phân tầng rõ nét giữa tầng cây vượt tán, tầng ưu thế sinh thái và tầng dưới tán ở từng trạng thái rừng. Đồng thời, các mối quan hệ đa nhân tố được tổng hợp hiệu quả qua bảng ma trận hệ số tương quan tuyến tính, giúp phản ánh trực tiếp sự phụ thuộc của mật độ cây tái sinh triển vọng vào độ dày tầng đất và độ tàn che của tán rừng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Áp dụng kỹ thuật chặt nuôi dưỡng rừng định lượng: Tiến hành chặt nuôi dưỡng điều tiết mật độ với cường độ chặt từ 15% đến 20% tổng tiết diện ngang, chu kỳ luân chuyển giãn cách từ 8 năm đến 12 năm thực hiện qua 2 đến 3 lần can thiệp. Mục tiêu nhằm nâng trữ lượng lâm phần từ mức bình quân 45 m3/ha hiện nay lên đạt mức 150 m3/ha sau thời gian nuôi dưỡng 25 đến 30 năm. Đơn vị chủ trì thực hiện là Công ty Lâm nghiệp Uông Bí và Ban quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử.

  2. Thực hiện luỗng phát thảm tươi và dây leo cục bộ: Tiến hành luỗng phát dọn sạch dây leo, cây bụi chèn ép xung quanh các gốc cây tái sinh mục đích đạt chiều cao trên 1m với bán kính dọn sạch từ 0,8m đến 1,2m. Tần suất thực hiện 2 lần mỗi năm vào đầu và cuối mùa sinh trưởng trong giai đoạn 2012-2015, nhằm nâng tỷ lệ sống và phát triển của cây tái sinh triển vọng lên trên 80%. Trách nhiệm triển khai thuộc về các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng và tổ đội bảo vệ rừng cơ sở.

  3. Xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp tra dặm cây bản địa: Trồng bổ sung các loài cây gỗ bản địa có giá trị kinh tế và phòng hộ cao như Lim xanh, Trám trắng, Xoan đào, Kháo vàng với mật độ tra dặm từ 300 cây/ha đến 500 cây/ha tại các khoảng trống rừng có độ tàn che dưới 0,4. Lộ trình thực hiện hoàn thành trong 5 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu tác động, do Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh và Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Lâm nông nghiệp phụ trách kỹ thuật.

  4. Tăng cường tuần tra và kiểm soát lâm sản nghiêm ngặt: Xây dựng hệ thống gồm 18 trạm chốt bảo vệ rừng tại các khu vực giáp ranh mỏ than Vàng Danh và Nam Mẫu, tổ chức các đội tuần tra liên ngành định kỳ hàng tuần nhằm ngăn chặn 100% các hành vi chặt phá, lấn chiếm rừng trái phép từ năm 2012 trở đi. Cơ quan chịu trách nhiệm chính là Hạt Kiểm lâm thành phố Uông Bí phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các phường Bắc Sơn và Vàng Danh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm: Cung cấp nguồn luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng các chính sách điều chế rừng, quy hoạch phân định 3 loại rừng và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

  2. Các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ: Ứng dụng trực tiếp hệ thống 72 phương án kỹ thuật nuôi dưỡng rừng để lựa chọn giải pháp tối ưu cho từng lô rừng cụ thể, từ đó tối ưu hóa chi phí đầu tư và rút ngắn chu kỳ kinh doanh gỗ lớn.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Lâm học: Sử dụng toàn bộ hệ phương pháp luận nghiên cứu cấu trúc, phân tích đường ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái và mô hình toán học làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về lâm sinh học nhiệt đới.

  4. Các chủ rừng hộ gia đình và cộng đồng dân cư địa phương: Tham khảo các tiêu chí nhận biết cây tái sinh có triển vọng và quy trình kỹ thuật luỗng phát, tỉa thưa nuôi dưỡng rừng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế vườn rừng và duy trì nguồn thu nhập ổn định từ rừng tự nhiên nhận giao khoán.

Câu hỏi thường gặp

Rừng thứ sinh nghèo tại thành phố Uông Bí có đặc điểm cấu trúc nổi bật nào? Cấu trúc lâm phần bị suy thoái mạnh với phân bố số cây theo cỡ kính N/D1.3 dạng giảm lệch trái. Trên 70% số cây tập trung ở cấp kính nhỏ từ 6 cm đến 14 cm, trong khi cây thương phẩm lớn trên 40 cm chỉ chiếm dưới 5%. Trữ lượng lâm phần chỉ đạt từ 10 m3/ha đến 60 m3/ha và tỷ lệ cây chất lượng tốt chỉ chiếm dưới 40%.

Cây tái sinh có triển vọng được định nghĩa và nhận biết như thế nào? Cây tái sinh có triển vọng là những cá thể cây gỗ thuộc nhóm loài mục đích hoặc cây có ích, có phẩm chất thân cây thẳng từ trung bình đến tốt, mọc từ hạt và đạt chiều cao vút ngọn từ 2m trở lên. Đây là thành phần quyết định khả năng phục hồi tự nhiên của rừng mà không cần tốn kém chi phí trồng mới.

Độ tàn che của tán rừng ảnh hưởng ra sao đến mật độ cây tái sinh? Độ tàn che tối ưu cho cây tái sinh sinh trưởng dao động từ 0,5 đến 0,6. Khi độ tàn che quá cao trên 0,7, mật độ cây con giảm trên 30% do thiếu ánh sáng quang hợp. Ngược lại, khi độ tàn che dưới 0,4, thảm cỏ dại phát triển mạnh lấn át khiến cây tái sinh khó vượt qua cấp chiều cao 1m.

Phương án chặt nuôi dưỡng rừng nào mang lại hiệu quả cao nhất? Phương án kỹ thuật tối ưu dựa trên chỉ số beta là chặt nuôi dưỡng với cường độ từ 15% đến 20%, thực hiện 2 đến 3 lần với chu kỳ giãn cách 8 đến 12 năm. Phương thức này cho phép lâm phần đạt trữ lượng đích 150 m3/ha sau khoảng 25 đến 30 năm, rút ngắn 10 đến 15 năm so với để rừng tự phục hồi.

Điều kiện thổ nhưỡng tại Uông Bí có đảm bảo cho rừng tự phục hồi không? Đất feralit trên đá mẹ sạn kết tại khu vực có độ dày tầng đất trung bình từ 75 cm đến 121 cm, độ xốp đạt từ 57,29% đến 65,98% và hàm lượng mùn tầng mặt từ 2,90% đến 4,05%. Đây là điều kiện lý hóa học rất thuận lợi, cung cấp đầy đủ dưỡng chất và độ ẩm cho thảm thực vật phục hồi nhanh chóng.

Kết luận

  • Đã đánh giá toàn diện đặc điểm địa hình, đất đai và cấu trúc quần xã thực vật của 3 trạng thái rừng thứ sinh nghèo tại Uông Bí trên 18 ô tiêu chuẩn và 90 ô dạng bản.
  • Đã lượng hóa quy luật tái sinh tự nhiên với tỷ lệ tái sinh hạt đạt trên 85% và chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng của lớp cây tái sinh có triển vọng cao trên 2m.
  • Đã xác định độ tàn che từ 0,5 đến 0,6 và mức độ che phủ thảm tươi là hai nhân tố sinh thái chi phối then chốt tới quá trình phục hồi của lâm phần.
  • Đã xây dựng bộ 72 phương án nuôi dưỡng rừng định lượng, xác định phương án tối ưu với cường độ chặt 15% đến 20% qua 2 đến 3 lần luân kỳ để đạt trữ lượng 150 m3/ha.
  • Đã đề xuất hệ thống 4 giải pháp lâm sinh đồng bộ từ chặt nuôi dưỡng, luỗng phát thảm tươi, tra dặm cây bản địa đến bảo vệ nghiêm ngặt chống chặt phá trái phép.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là chuyển đổi phương thức quản lý từ khoanh nuôi thụ động sang tác động kỹ thuật lâm sinh chủ động có định lượng cho rừng thứ sinh nhiệt đới. Trong giai đoạn 2012-2020 và các thập niên tiếp theo, các đơn vị quản lý tài nguyên rừng tại Quảng Ninh cần áp dụng ngay các giải pháp kỹ thuật nuôi dưỡng này để nhanh chóng phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên bền vững.