LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài , các doanh nghiệp ngành xi măng nói riêng đều gặp nhiều vấn đề khó khăn trong hoạt động sản xuất k tài chính. Làm thế nào để có vốn hoạt động, giữ vững sản xuất kinh doanh, đảm bảo tăng trƣởng ổn định luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Quyết định cấu trúc tài chính là một vấn đề cốt yếu đối với bất cứ doanh nghiệp nào.
Quyết định này rất quan trọng bởi vì nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhƣng chính những khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp đã không đặt mục tiêu hiệu quả tài chính cao, mà tập trung duy trì sản xuất, kinh doanh ổn định. Vì vậy, có những lúc, quyết định cấu trúc tài chính ở các doanh nghiệp bị xem nhẹ. Với mục đích duy trì kinh doanh nên việc lựa chọn nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu hoạt động kinh doanh đƣợc hình thành một cách tự phát, không dựa trên những nguyên lý cơ bản nào cả.
Xuất phát từ mục đích giúp các doanh nghiệp có sự lựa chọn cấu trúc tài chính phù hợp cho hoạt động kinh doanh, luận văn này phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam. Điều này thực sự là cần thiết để làm cơ sở cho các doanh nghiệp có quyết định một cấu trúc tài chính phù hợp nhất, nhanh nhất cho mình và đem lại hiệu quả tài chính cao nhất. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là: Trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc tài chính và một số kết quả nghiên cứu trên thế giới, tác giả xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp nhƣ thế nào? 2 Phân tích thực trạng cấu trúc tài chính, hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011. Kiểm định thực nghiệm sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến cấu trúc tài chính bằng mô hình hồi quy kinh tế lƣợng.
Từ đó, đƣa ra một số giải pháp và kiến nghị để giúp các doanh nghiệp xác định một cấu trúc tài chính phù hợp để nâng cao hiệu quả tài chính. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Các doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam đang niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế về số liệu nên tác giả chọn mẫu các doanh nghiệp tiêu biểu ngành xi măng Việt Nam,. Số liệu chọn khảo sát là số liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp hoạt động trong giai đoạn năm 2008 – 2011.
Danh sách các doanh nghiệp sử dụng trong đề tài xem phụ lục 1. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng phƣơng pháp hệ thống hóa dữ liệu thu thập đƣợc, sử dụng phƣơng pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu, ứng dụng mô hình hồi quy kinh tế lƣợng để đánh giá tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc nhƣ thế nào? Sử dụng chƣơng trình Eviews 5. để hỗ trợ phân tích mô hình hồi quy kinh tế lƣợng. Kết cấu của đề tài Đề tài đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Trong phần này nêu ra tổng quát về cấu trúc tài chính, các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính, giới thiệu tóm tắt các lý thuyết về cấu trúc tài chính và cuối cùng là xem xét một số nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc tài chính từ các nƣớc trên thế giới.
3 Chƣơng 2: Phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam. Bắt đầu bằng việc phân tích thực trạng cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam. Kế đến, bằng mô hình hồi quy kinh tế lƣợng kiểm định sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc tài chính. Chƣơng 3: Giải pháp về cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành xi măng Việt Nam.
Phần này đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị gợi ý áp dụng cho các doanh nghiệp ngành xi măng để xây dựng một cấu trúc tài chính phù hợp cho giai đoạn hoạt động kinh doanh hiện tại của các doanh nghiệp. 4 CHƢƠNG 1 DOANH NGHIỆP 1.1 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CẤU TRÚC CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các lý thuyết về cấu trúc 1.1 Lý thuyết của M&M về cấu trúc của doanh nghiệp Lý thuyết của M&M về cấu trúc của doanh nghiệp đƣợc Modigliani và Miller (M&M) đƣa ra năm 1958, nội dung của lý thuyết này xem xét mối liên hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị của doanh nghiệp Để chứng minh một lý thuyết khả thi, M&M đã đƣa ra một số những giả định, cụ thể là có các điều kiện thị trƣờng vốn hoàn hảo sau đây: - Không có các chi phí giao dịch khi mua và bán chứng khoán. - Có đủ số ngƣời mua và ngƣời bán trên thị trƣờng, vì vậy không có một nhà đầu tƣ riêng lẻ nào có một ảnh hƣởng lớn đối với giá cả chứng khoán. - Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tƣ và không phải mất tiền.
- Tất cả các nhà đầu tƣ có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất. Ngoài ra, M&M cũng giả định là: - Tất cả các nhà đầu tƣ đều hợp lý và có các kỳ vọng thuần nhất về lợi nhuận của một doanh nghiệp. - Các doanh nghiệp hoạt động dƣới các điều kiện tƣơng tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh. - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Sau đó M&M đã bỏ giả định không có thuế này. Bằng những lập luận của mình, M&M đã cho rằng: “giá trị thị trƣờng của một doanh nghiệp độc lập đối với cấu trúc của doanh nghiệp đó trong các thị trƣờng 5 hoàn hảo không có thuế thu nhập doanh nghiệp”. “Giá trị của doanh nghiệp đƣợc xác định bằng các tài sản thực, chứ không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành. Nhƣ vậy cấu trúc không liên quan đến giá trị doanh nghiệp khi các quyết định đầu tƣ của doanh nghiệp đã đƣợc định sẵn”.
Lập luận về chi phí cơ hội đối với sự lựa chọn của cổ đông trong doanh nghiệp và phân tích tỷ suất lợi nhuận trên giá trị tài sản, M&M cho rằng tác động đòn bẩy làm tăng lợi nhuận trên mỗi cổ phần, nhƣng điều này không làm gia tăng giá trị tài sản. M&M cho rằng tác động đòn bẩy làm gia tăng lợi nhuận trên mỗi cổ phần, nhƣng điều này không làm gia tăng giá trị cổ phần. Năm 1963, Modigliani và Miller chi .2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc Vì chi phí lãi vay là một khoản chi phí đƣợc khấu trừ trƣớc khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay để tài trợ sẽ tạo nên một khoản lợi ích, hay nói một cách khác là tạo nên một tấm chắn thuế. Vì thế, lợi ích của tấm chắn thuế đã thu hút các doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều đến mức có thể.
Nhƣng trong thực tế, nhiều doanh nghiệp có mức sinh lời cao nhƣng không có sử dụng nợ hoặc có cũng ở mức độ thấp. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính. 6 Kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệp không đáp ứng các điều kiện của hợp đồng với chủ nợ khi tỷ nợ tăng thêm, thì lợi ích tấm chắn thuế cũng gia tăng, nhƣng khi đó chủ nợ cũng đòi hỏi một lãi suất cao hơn, và doanh nghiệp sẽ đối mặt sự khó khăm trong thanh khoản,.Và đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Nhƣ vậy, đối với lý thuyết đánh đổi cấu trúc tài chính, phải cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính trong việc lựa chọn một tỷ tài trợ bằng nợ hợp lý.
Lý thuyết đánh đổi nhìn chung thừa nhận rằng một sự kết hợp hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ sẽ tạo nên một cấu trúc tài chính tối ƣu cho doanh nghiệp. “Lý thuyết đánh đổi còn thừa nhận rằng tỷ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn, có nhiều thu nhập chịu thuế nên có tỷ nợ cao hơn. Các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp hơn, có tỷ trọng tài sản vô hình cao hơn nên chủ yếu sử dụng tài trợ bằng vốn cổ phần.3 Lý thuyết về trật tự phân hạng Một lý thuyết cấu trúc tài chính khác đƣợc phát triển bởi Myers và Majluf năm 1984 về mối liên hệ giữa rủi ro và lợi nhuận của các nguồn vốn lý giải các quyết định tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng.
Lý thuyết trật tự phân hạng bắt đầu với thông tin bất cân xứng, một cụm từ dùng để chỉ rằng các giám đốc biết nhiều về các tiềm năng, rủi ro và giá trị của doanh nghiệp mình hơn là các nhà đầu tƣ bên ngoài. Thông tin bất cân xứng tác động đến sự lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài và giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần.” Vì vậy, lý thuyết này giúp giải thích tại sao các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh nhất, thì thƣờng có tỷ nợ vay thấp hơn, không phải vì họ có các tỷ nợ mục tiêu thấp mà vì họ. “Các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh hơn thì phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chƣơng trình đầu tƣ vốn và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài”.4 Lý thuyết về chi phí đại diện Lý thuyết chi phí đại diện đƣợc phát triển sâu hơn bởi Jensen và Meckling năm 1976. Lý thuyết này thừa nhận sự tồn tại của một cấu trúc tối ƣu cho doanh nghiệp bởi vì sự có mặt của chi phí đại diện.
Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn tiềm tàng về lợi ích giữa cổ đông, trái chủ và ngƣời quản lý doanh nghiệp. hai dạng mâu thuẫn về đại diện: mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý doanh nghiệp và mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ.