Luận án tiến sĩ cấu trúc quần xã ve giáp acari oribatida và vai trò của chúng ở vùng đồng bằng sông hồng phía bắc việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp acari oribatida và vai trò của chúng ở vùng đồng bằng sông hồng phía bắc, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Động Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Cơ sở khoa học và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Nội dung nghiên cứu

1.4. Đóng góp mới của luận án

1.5. Bố cục luận án

2. TỔNG QUAN

2.1. Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới

2.2. Nghiên cứu về ve giáp (Acari: Oribatida) ở Việt Nam

2.2.1. Giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1985

2.2.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến 2007

2.2.3. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

2.3. Nghiên cứu về ve giáp ở vùng Đồng Bằng sông Hồng

2.3.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng nghiên cứu

2.3.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
2.3.1.2. Khí hậu và thuỷ văn
2.3.1.3. Thổ nhưỡng và đất đai
2.3.1.4. Đặc điểm canh tác nông nghiệp và xã hội nhân văn

2.4. Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu và xử lý mẫu vật

2.4.2.1. Thu mẫu nghiên cứu
2.4.2.2. Tách lọc và xử lý mẫu ve giáp
2.4.2.3. Phân tích và định loại ve giáp
2.4.2.4. Phân tích và xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) ở vùng đồng bằng sông Hồng

3.1.1. Đa dạng thành phần loài

3.1.2. Cấu trúc phân loại học

3.1.3. So sánh quần xã ve giáp vùng đồng bằng sông Hồng với quần xã ve giáp vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ

3.1.4. Sơ bộ nhận xét và kết luận

3.2. Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại sinh cảnh

3.2.1. Thành phần loài và đặc điểm phân bố của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

3.2.2. Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

3.2.3. Cấu trúc nhóm loài ưu thế của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

3.2.4. Chỉ số đồng đều Pielou (J’) và đa dạng Shannon - Wiener (H’) của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

3.2.5. Sự tương đồng của quần xã ve giáp ở 4 loại sinh cảnh

3.2.6. Sơ bộ nhận xét và kết luận

3.3. Cấu trúc quần xã ve giáp liên quan đến loại đất và chế độ bón phân

3.3.1. Thành phần loài và đặc điểm phân bố của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

3.3.2. Mật độ cá thể trung bình và cấu trúc nhóm loài ưu thế của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

3.3.3. Chỉ số đồng đều Pielou (J’) và chỉ số đa dạng H’ của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

3.3.4. Sự tương đồng của quần xã ve giáp ở 4 loại đất

3.3.5. Thành phần loài ve giáp ở các chế độ bón phân

3.3.6. Mật độ cá thể trung bình của quần xã ve giáp ở các chế độ bón phân

3.3.7. Sơ bộ nhận xét và kết luận

3.4. Vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quần xã ve giáp ở vùng nghiên cứu

3.4.1. Vai trò chỉ thị của quần xã ve giáp đối với biến đổi sinh cảnh sống

3.4.2. Vai trò chỉ thị của quần xã ve giáp đối với biến đổi của loại đất, chế độ bón phân

3.4.3. Sơ bộ nhận xét và kết luận

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở khoa học và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về Acari (ve giáp) có vai trò quan trọng trong việc hiểu biết về cấu trúc quần xã sinh vật trong hệ sinh thái đất. Oribatida, một nhóm trong Acari, chiếm ưu thế trong quần xã động vật đất với khoảng 90% tổng số lượng chân khớp bé. Chúng tham gia vào quá trình phân hủy chất hữu cơ và hình thành đất, đồng thời là môi trường sống cho nhiều vi sinh vật. Việc nghiên cứu quần xã sinh vật này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý bền vững môi trường. Đặc biệt, trong bối cảnh ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, vai trò chỉ thị của ve giáp càng trở nên cần thiết. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái đất tại vùng đồng bằng sông Hồng.

II. Nghiên cứu về ve giáp Acari Oribatida ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về Oribatida bắt đầu từ năm 1967 và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quần xã ve giáp ở Việt Nam có sự đa dạng phong phú, phản ánh đặc điểm khí hậu và địa hình của từng vùng miền. Đặc biệt, đồng bằng sông Hồng là khu vực có nhiều nghiên cứu về quần xã động vật đất, nhưng vẫn còn thiếu sót trong việc hiểu biết về cấu trúc và vai trò của ve giáp. Việc nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp tại đây sẽ giúp bổ sung thông tin cho khu hệ ve giáp Việt Nam, đồng thời đánh giá tác động của các yếu tố môi trường như loại đất và chế độ bón phân đến sự phân bố và đa dạng của chúng.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc quần xã ve giáp ở đồng bằng sông Hồng rất đa dạng với 283 loài thuộc 129 giống và 57 họ. Trong đó, họ Oppiidae chiếm tỷ lệ lớn nhất. Sự biến đổi của cấu trúc quần xã ve giáp liên quan chặt chẽ đến loại sinh cảnh và loại đất. Các chỉ số sinh thái như độ đồng đều Pielou (J’) và chỉ số đa dạng Shannon - Wiener (H’) cho thấy sự đa dạng và phân bố của quần xã ve giáp có sự khác biệt rõ rệt giữa các loại đất và chế độ bón phân. Điều này cho thấy ve giáp có thể được sử dụng như một chỉ thị sinh học cho sự biến đổi của môi trường đất, từ đó hỗ trợ cho việc quản lý và bảo tồn hệ sinh thái đất.

IV. Vai trò chỉ thị sinh học của cấu trúc quần xã ve giáp

Cấu trúc quần xã ve giáp không chỉ phản ánh sự đa dạng sinh học mà còn có vai trò quan trọng trong việc chỉ thị các biến đổi sinh thái. Nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi trong cấu trúc quần xã ve giáp có thể trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường đất. Các loài ve giáp nhạy cảm với các yếu tố như ô nhiễm và biến đổi khí hậu, do đó, việc theo dõi quần xã ve giáp có thể cung cấp thông tin quý giá cho việc đánh giá sức khỏe của hệ sinh thái đất. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc ứng dụng ve giáp như một công cụ trong quản lý môi trường và phát triển bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1.1 Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới Trên thế giới các nghiên cứu về ve giáp được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XIX. Nghiên cứu phân loại ve giáp trên cơ sở hình thái học vẫn đang trong quá trình phát triển và xây dựng với sự đóng góp rất lớn của nhiều tác giả trên thế giới như: Willman, Edward và Wharton, Grandjean, Balogh, Koch, Krivolutsky, Kranzt và Water, Balogh J. Theo Subias (2013), khu hệ ve giáp thế giới đã phát hiện được 10.342 loài và phân loài thuộc 1249 giống và 163 họ [204]. Do đó việc xây dựng hệ thống phân loại học và hệ thống tiến hóa của ve giáp vẫn đang trong quá trình phát triển.

Một số hệ thống phân loại ve giáp truyền thống thường được sử dụng như Grandjean (1953) [203], Balogh (1961, 1963) [65], [66], Balogh (1992, 2002) [69], [70], Krivolutsky (1975) [137], Aoki (1999) [61], Norton và Benhan - Pelletier (2009) [169], Schatz và cộng sự (2011) [ 176], Subias (2013) [204]. Hiện nay, phần lớn các chuyên gia sử dụng hệ thống phân loại theo Balogh P. Các nghiên cứu về ve giáp phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới và phát triển theo nhiều hướng với quy mô nghiên cứu khác nhau. Phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng trong nghiên cứu phân loại ve giáp, trong đó có thể kể đến các nghiên cứu của Mauran và cộng sự (2004) [157], Domes và cộng sự (2007) [96], Birky và cộng sự (2010) [84], Dabert và cộng sự (2010) [95].

Tuy nhiên phương pháp này chưa được sử dụng nhiều, phân loại bằng phân tích hình thái vẫn là phương pháp chính được áp dụng trong hầu hết các nghiên cứu về ve giáp trên thế giới. Tại châu Á, các nghiên cứu tập trung nhiều ở các nước Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Philippin, Iran…. Một trong những quốc gia có bước nghiên cứu đầu tiên về ve giáp là Liên Xô (cũ). Ngoài các nghiên cứu về khu hệ, ngay từ luan an 5 những năm 1975, 1976, Krivolutsky đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp, trong đó vai trò chỉ thị được đặc biệt quan tâm [136], [139], [140], [141], [142], [143].

Kết quả các nghiên cứu của ông cho thấy rằng những thay đổi của môi trường sống thường dẫn đến phản ứng nhạy cảm và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã động vật chân khớp bé ở đất. Chính vì vậy, chân khớp bé mà đại diện là nhóm bọ nhảy và ve giáp là nhóm động vật thích hợp làm sinh vật kiểm tra ở mức độ tổ hợp loài [142]. Gulvik (2007) đã nêu tổng quát về nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật chân khớp bé ở đất nói chung và ve giáp nói riêng trong việc đánh giá mức độ tác động của con người đến hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu đã nhận định sự thay đổi trong cấu trúc quần xã ve giáp có thể trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường đất [117].

Năm 2011, Adrievskiz nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp như một thước đo mức độ ô nhiễm môi trường đất [58]. Tại khu vực Đông Nam Á, khu hệ ve giáp Indonesia được nghiên cứu đầu tiên bởi Berlese (1913) [205]. Sau đó, một số lượng lớn các công trình nghiên cứu về ve giáp được tiến hành trong khu vực này bao gồm các nghiên cứu ở Indonesia của Csiszar (1961) [93], Balogh và Mahunka (1968) [72], ở Thái Lan của Aoki (1965, 2009) [59], [62], của Balogh và Mahunka (1974) tại Malaysia [73] và của Corpus Rasos (1992) tại Philippin [90]. Tại Nhật Bản và Trung Quốc, nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển với nhiều nghiên cứu ý nghĩa.

Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của Karasawa (2004) về ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh và sự phân cắt địa lý đến quần xã ve giáp ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu [131], nghiên cứu của Hasegawa và cộng sự (2006) về ảnh hưởng của yếu tố địa chất và độ cao so với mực nước biển đối với cấu trúc quần xã ve giáp và một số nghiên cứu của các tác giả khác [62], [63], [121], [123]. Tại khu vực châu Mỹ các nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển, đặc biệt là các nghiên cứu về sinh học và sinh thái. Các nghiên cứu của Krantz (1978) đã xác định ve giáp tham gia tích cực trong sự phân hủy hợp chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và quá trình tạo đất [136]. Tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng đều ăn với một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa.

luan an 6 Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây, một vài loài là động vật ăn thịt, không có loài nào sống ký sinh [135]. Các nghiên cứu của Berhan - Pelletier (1999) cũng cho thấy ve giáp là loài đông đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong những môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, nghiên cứu cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của ve giáp sẽ xác định được yếu tố chỉ thị thích hợp [79]. Năm 2002, Schatz đã tổng kết và đưa ra danh lục 543 loài đã biết của khu hệ ve giáp Trung châu Mỹ. Ngoài ra ông còn tổng hợp số lượng ve giáp ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc khu vực Trung châu Mỹ như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài).Đến năm 2002, số lượng các loài ve giáp đã biết tại khu vực Trung Châu Mỹ bao gồm cả Mexico và Antilles là 1238 loài [206].

Minor và cộng sự (2004, 2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại đất canh tác, các loại phân bón hữu cơ, phân ure, màn che ánh sáng tới cấu trúc quần xã ve giáp khu vực New York. Kết quả cho thấy, loại đất có ảnh hưởng rõ rệt tới quy mô và sự đa dạng của quần xã ve giáp [160], [161]. Từ năm 2012 đến nay, tại khu vực Châu Mỹ, nghiên cứu ve giáp tiếp tục được phát triển và tập trung nhiều ở các nước Mỹ, Canada, Mexico, Argentina, Brazil, Ecuador. Trong đó phải kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp trong hệ sinh thái đất của các tác giả Accattoli, Salazar - Martinez, Acuna - Cantillo,….

Tại châu Đại Dương, các nghiên cứu về ve giáp tập trung nhiều tại Australia và New Zealand. Australia là nước có nhiều nghiên cứu tiêu biểu về nhóm ve giáp sống trên cây. Theo ước tính của Walter (1995), đã phát hiện được khoảng 102 loài ve giáp sống trên các tán cây của rừng mưa. Theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống thuộc 35 họ ve giáp đã được biết là sống trên cây và hầu hết những loài này thuộc nhóm Brachypylia [198].

Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả ở đây đã cho thấy ve giáp là nhóm sinh vật có số lượng đông đảo hơn bất kỳ các chân khớp khác sống trên cây kể cả côn trùng. Các tác giả cũng ước tính vòm lá của một cây cao 10m trong vùng rừng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng gần 400.000 cá thể ve bét mà chủ luan an 7 yếu là ve giáp [198]. Châu Âu được coi là trung tâm phát triển mạnh mẽ nhất về nghiên cứu ve giáp.Trong rất nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Mone và các cộng sự (1988) [164]. Kết quả nghiên cứu này cho thấy ve giáp là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật thuộc lớp hình nhện có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì cấu trúc đất, tham gia vào quá trình phân hủy feralitmùn bằng cách nghiền nát các hợp chất hữu cơ.

Năm 2006, để đánh giá tác động của khí hậu lục địa đến cấu trúc quần xã ve giáp, Zaitsev và Wolters đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu ve giáp theo lát cắt ngang châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcơva (liên bang Nga) trong cùng một kiểu sinh cảnh rừng rụng lá theo mùa. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí hậu lục địa có ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc chức năng và độ đa dạng của quần xã ve giáp. Mặt khác cũng có dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ [201]. Năm 2012, Kaczmarek và cộng sự đã nghiên cứu về đa dạng cấu trúc quần xã ve bét trên ba sinh cảnh nằm trong vùng ngập nước theo mùa ở Ba Lan.

Kết quả cho thấy đa dạng quần xã ve giáp có thể sử dụng như một chỉ thị sinh học cho quá trình chuyển đổi thảm thực vật của các rừng ven sông [130]. Năm 2014, Lehmitz đã nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình làm khô và quá trình gây rừng đối với quần xã ve giáp trên đất than bùn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình làm khô đất bùn đã làm giảm mức độ đa dạng loài quần xã ve giáp, một số loài nhạy cảm với độ ẩm môi trường đã biến mất. Do đó có thể đề xuất sử dụng quần xã ve giáp là cơ sở để đánh giá những biến đổi và quá trình thoái hóa của môi trường sống [146].

 Như vậy trên thế giới, khu hệ ve giáp đã trải qua hàng trăm năm nghiên cứu và phát triển. Các nghiên cứu phân bố không đồng đều giữa các châu lục và tập trung nhiều ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Phân loại học hình thái là phương pháp được sử dụng chủ yếu, phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng nhưng chưa nhiều. Các nghiên cứu phân loại học, thành phần loài trong khu hệ vẫn là các luan an 8 nghiên cứu cơ bản và không ngừng được phát triển và mở rộng về phạm vi địa lý và môi trường sinh thái (trong lòng đất, dưới nước, trên cây, thảm lá…).

Trên thế giới khu hệ ve giáp hiện biết 10.342 loài và phân loài, thuộc 1.249 giống và 163 họ [204]. Tuy nhiên theo các chuyên gia nghiên cứu con số này mới chiếm khoảng 20% tổng số loài thực tế [204], bởi vậy việc tiếp tục nghiên cứu bổ sung thông tin nhằm làm rõ tính chất đa dạng của khu hệ ve giáp trên toàn thế giới là rất cần thiết. Các thông tin sinh thái học của quần xã ve giáp ngày càng được bổ sung đầy đủ hơn ở cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp. Vai trò của ve giáp trong hệ sinh thái đất ban đầu được chú ý nghiên cứu làm rõ về vai trò đối với các quá trình luân chuyển vật chất, cấu tạo đất, vai trò mang truyền nang sán….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về cấu trúc quần xã ve giáp Acari Oribatida và vai trò của chúng ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam" của tác giả Lại Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Vũ Quang Mạnh, tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp Acari Oribatida tại khu vực đồng bằng sông Hồng. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng và vai trò sinh thái của nhóm động vật này mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong hệ sinh thái đất. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách mà các loài ve giáp này ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng, từ đó có thể áp dụng kiến thức này vào các nghiên cứu sinh học và bảo tồn.

Để mở rộng thêm kiến thức về động vật học và các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, nơi nghiên cứu về một nhóm động vật khác trong hệ sinh thái nước ngọt, và Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài kiền kiền phú quốc phục vụ bảo tồn, cung cấp cái nhìn về sự bảo tồn động vật trong môi trường tự nhiên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng sinh học và vai trò của các loài động vật trong hệ sinh thái.