CHƯƠNG 1.1 Khái quát về nghiên cứu ve giáp (Acari: Oribatida) trên thế giới Trên thế giới các nghiên cứu về ve giáp được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XIX. Nghiên cứu phân loại ve giáp trên cơ sở hình thái học vẫn đang trong quá trình phát triển và xây dựng với sự đóng góp rất lớn của nhiều tác giả trên thế giới như: Willman, Edward và Wharton, Grandjean, Balogh, Koch, Krivolutsky, Kranzt và Water, Balogh J. Theo Subias (2013), khu hệ ve giáp thế giới đã phát hiện được 10.342 loài và phân loài thuộc 1249 giống và 163 họ [204]. Do đó việc xây dựng hệ thống phân loại học và hệ thống tiến hóa của ve giáp vẫn đang trong quá trình phát triển.
Một số hệ thống phân loại ve giáp truyền thống thường được sử dụng như Grandjean (1953) [203], Balogh (1961, 1963) [65], [66], Balogh (1992, 2002) [69], [70], Krivolutsky (1975) [137], Aoki (1999) [61], Norton và Benhan - Pelletier (2009) [169], Schatz và cộng sự (2011) [ 176], Subias (2013) [204]. Hiện nay, phần lớn các chuyên gia sử dụng hệ thống phân loại theo Balogh P. Các nghiên cứu về ve giáp phân bố rộng khắp các châu lục trên thế giới và phát triển theo nhiều hướng với quy mô nghiên cứu khác nhau. Phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng trong nghiên cứu phân loại ve giáp, trong đó có thể kể đến các nghiên cứu của Mauran và cộng sự (2004) [157], Domes và cộng sự (2007) [96], Birky và cộng sự (2010) [84], Dabert và cộng sự (2010) [95].
Tuy nhiên phương pháp này chưa được sử dụng nhiều, phân loại bằng phân tích hình thái vẫn là phương pháp chính được áp dụng trong hầu hết các nghiên cứu về ve giáp trên thế giới. Tại châu Á, các nghiên cứu tập trung nhiều ở các nước Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Philippin, Iran…. Một trong những quốc gia có bước nghiên cứu đầu tiên về ve giáp là Liên Xô (cũ). Ngoài các nghiên cứu về khu hệ, ngay từ luan an 5 những năm 1975, 1976, Krivolutsky đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp, trong đó vai trò chỉ thị được đặc biệt quan tâm [136], [139], [140], [141], [142], [143].
Kết quả các nghiên cứu của ông cho thấy rằng những thay đổi của môi trường sống thường dẫn đến phản ứng nhạy cảm và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã động vật chân khớp bé ở đất. Chính vì vậy, chân khớp bé mà đại diện là nhóm bọ nhảy và ve giáp là nhóm động vật thích hợp làm sinh vật kiểm tra ở mức độ tổ hợp loài [142]. Gulvik (2007) đã nêu tổng quát về nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật chân khớp bé ở đất nói chung và ve giáp nói riêng trong việc đánh giá mức độ tác động của con người đến hệ sinh thái đất. Kết quả nghiên cứu đã nhận định sự thay đổi trong cấu trúc quần xã ve giáp có thể trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường đất [117].
Năm 2011, Adrievskiz nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp như một thước đo mức độ ô nhiễm môi trường đất [58]. Tại khu vực Đông Nam Á, khu hệ ve giáp Indonesia được nghiên cứu đầu tiên bởi Berlese (1913) [205]. Sau đó, một số lượng lớn các công trình nghiên cứu về ve giáp được tiến hành trong khu vực này bao gồm các nghiên cứu ở Indonesia của Csiszar (1961) [93], Balogh và Mahunka (1968) [72], ở Thái Lan của Aoki (1965, 2009) [59], [62], của Balogh và Mahunka (1974) tại Malaysia [73] và của Corpus Rasos (1992) tại Philippin [90]. Tại Nhật Bản và Trung Quốc, nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển với nhiều nghiên cứu ý nghĩa.
Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của Karasawa (2004) về ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh và sự phân cắt địa lý đến quần xã ve giáp ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu [131], nghiên cứu của Hasegawa và cộng sự (2006) về ảnh hưởng của yếu tố địa chất và độ cao so với mực nước biển đối với cấu trúc quần xã ve giáp và một số nghiên cứu của các tác giả khác [62], [63], [121], [123]. Tại khu vực châu Mỹ các nghiên cứu về ve giáp cũng khá phát triển, đặc biệt là các nghiên cứu về sinh học và sinh thái. Các nghiên cứu của Krantz (1978) đã xác định ve giáp tham gia tích cực trong sự phân hủy hợp chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và quá trình tạo đất [136]. Tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng đều ăn với một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa.
luan an 6 Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây, một vài loài là động vật ăn thịt, không có loài nào sống ký sinh [135]. Các nghiên cứu của Berhan - Pelletier (1999) cũng cho thấy ve giáp là loài đông đảo xuất hiện chiếm ưu thế trong những môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, nghiên cứu cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của ve giáp sẽ xác định được yếu tố chỉ thị thích hợp [79]. Năm 2002, Schatz đã tổng kết và đưa ra danh lục 543 loài đã biết của khu hệ ve giáp Trung châu Mỹ. Ngoài ra ông còn tổng hợp số lượng ve giáp ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc khu vực Trung châu Mỹ như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài).Đến năm 2002, số lượng các loài ve giáp đã biết tại khu vực Trung Châu Mỹ bao gồm cả Mexico và Antilles là 1238 loài [206].
Minor và cộng sự (2004, 2007) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại đất canh tác, các loại phân bón hữu cơ, phân ure, màn che ánh sáng tới cấu trúc quần xã ve giáp khu vực New York. Kết quả cho thấy, loại đất có ảnh hưởng rõ rệt tới quy mô và sự đa dạng của quần xã ve giáp [160], [161]. Từ năm 2012 đến nay, tại khu vực Châu Mỹ, nghiên cứu ve giáp tiếp tục được phát triển và tập trung nhiều ở các nước Mỹ, Canada, Mexico, Argentina, Brazil, Ecuador. Trong đó phải kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu về vai trò của quần xã ve giáp trong hệ sinh thái đất của các tác giả Accattoli, Salazar - Martinez, Acuna - Cantillo,….
Tại châu Đại Dương, các nghiên cứu về ve giáp tập trung nhiều tại Australia và New Zealand. Australia là nước có nhiều nghiên cứu tiêu biểu về nhóm ve giáp sống trên cây. Theo ước tính của Walter (1995), đã phát hiện được khoảng 102 loài ve giáp sống trên các tán cây của rừng mưa. Theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống thuộc 35 họ ve giáp đã được biết là sống trên cây và hầu hết những loài này thuộc nhóm Brachypylia [198].
Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả ở đây đã cho thấy ve giáp là nhóm sinh vật có số lượng đông đảo hơn bất kỳ các chân khớp khác sống trên cây kể cả côn trùng. Các tác giả cũng ước tính vòm lá của một cây cao 10m trong vùng rừng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng gần 400.000 cá thể ve bét mà chủ luan an 7 yếu là ve giáp [198]. Châu Âu được coi là trung tâm phát triển mạnh mẽ nhất về nghiên cứu ve giáp.Trong rất nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện, có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Mone và các cộng sự (1988) [164]. Kết quả nghiên cứu này cho thấy ve giáp là nhóm quan trọng nhất trong số các động vật thuộc lớp hình nhện có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì cấu trúc đất, tham gia vào quá trình phân hủy feralitmùn bằng cách nghiền nát các hợp chất hữu cơ.
Năm 2006, để đánh giá tác động của khí hậu lục địa đến cấu trúc quần xã ve giáp, Zaitsev và Wolters đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu ve giáp theo lát cắt ngang châu Âu, từ Hà Lan đến Matxcơva (liên bang Nga) trong cùng một kiểu sinh cảnh rừng rụng lá theo mùa. Kết quả nghiên cứu cho thấy khí hậu lục địa có ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc chức năng và độ đa dạng của quần xã ve giáp. Mặt khác cũng có dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ [201]. Năm 2012, Kaczmarek và cộng sự đã nghiên cứu về đa dạng cấu trúc quần xã ve bét trên ba sinh cảnh nằm trong vùng ngập nước theo mùa ở Ba Lan.
Kết quả cho thấy đa dạng quần xã ve giáp có thể sử dụng như một chỉ thị sinh học cho quá trình chuyển đổi thảm thực vật của các rừng ven sông [130]. Năm 2014, Lehmitz đã nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình làm khô và quá trình gây rừng đối với quần xã ve giáp trên đất than bùn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình làm khô đất bùn đã làm giảm mức độ đa dạng loài quần xã ve giáp, một số loài nhạy cảm với độ ẩm môi trường đã biến mất. Do đó có thể đề xuất sử dụng quần xã ve giáp là cơ sở để đánh giá những biến đổi và quá trình thoái hóa của môi trường sống [146].
Như vậy trên thế giới, khu hệ ve giáp đã trải qua hàng trăm năm nghiên cứu và phát triển. Các nghiên cứu phân bố không đồng đều giữa các châu lục và tập trung nhiều ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Phân loại học hình thái là phương pháp được sử dụng chủ yếu, phân loại học sinh học phân tử đã được áp dụng nhưng chưa nhiều. Các nghiên cứu phân loại học, thành phần loài trong khu hệ vẫn là các luan an 8 nghiên cứu cơ bản và không ngừng được phát triển và mở rộng về phạm vi địa lý và môi trường sinh thái (trong lòng đất, dưới nước, trên cây, thảm lá…).
Trên thế giới khu hệ ve giáp hiện biết 10.342 loài và phân loài, thuộc 1.249 giống và 163 họ [204]. Tuy nhiên theo các chuyên gia nghiên cứu con số này mới chiếm khoảng 20% tổng số loài thực tế [204], bởi vậy việc tiếp tục nghiên cứu bổ sung thông tin nhằm làm rõ tính chất đa dạng của khu hệ ve giáp trên toàn thế giới là rất cần thiết. Các thông tin sinh thái học của quần xã ve giáp ngày càng được bổ sung đầy đủ hơn ở cả hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp. Vai trò của ve giáp trong hệ sinh thái đất ban đầu được chú ý nghiên cứu làm rõ về vai trò đối với các quá trình luân chuyển vật chất, cấu tạo đất, vai trò mang truyền nang sán….