Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng tự nhiên tại các vùng núi cao Việt Nam đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn và lưu giữ nguồn gen thực vật đặc hữu, trong đó các loài cây hạt trần (Gymnospermae) thuộc ngành Thông giữ vị trí đặc biệt về mặt sinh thái. Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) thuộc họ Thông (Pinaceae) là 1 trong 33 loài thông của Việt Nam bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia và quốc tế theo tài liệu "Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn năm 2004". Trên phạm vi toàn cầu, loài chỉ phân bố hẹp tại các vùng núi đá vôi thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Tại Việt Nam, loài phân bố rải rác trên các rặng núi đá vôi ở độ cao 500 – 1.500 m so với mực nước biển thuộc các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn và Lạng Sơn.
Hiện nay, vùng phân bố tự nhiên của Thiết sam giả lá ngắn đang bị thu hẹp nghiêm trọng; số lượng cá thể suy giảm do áp lực khai thác gỗ phục vụ mục đích thương mại, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ, kết hợp với đặc tính tái sinh tự nhiên kém. Loài đã được đề nghị bổ sung vào danh lục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, đồng thời xếp ở cấp Sẽ nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2007). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả hình thái học và sinh thái tổng quát, thiếu hụt dữ liệu định lượng về quy luật cấu trúc lâm phần và khả năng tái sinh dưới tán rừng.
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, tạo cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên có Thiết sam giả lá ngắn phân bố ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng và mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý nhằm bảo tồn, phát triển quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) và lâm phần rừng tự nhiên có loài phân bố.
- Phạm vi không gian: Rừng tự nhiên núi đá vôi tại hai xã Ca Thành và Triệu Nguyên, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu thực địa, xử lý nội nghiệp và hoàn thành khóa luận được tiến hành từ tháng 02/2014 đến tháng 05/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng quan điểm sinh thái học phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), kết hợp các lý thuyết về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới của Richards P.W (1952, 1976), Odum E.P (1971) và Bernard Rollet (1974). Để xác định vị trí ưu thế sinh thái của loài trong lâm phần, tác giả áp dụng phương pháp chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI) theo Daniel Marmillod (1958) và Curtis & McIntosh.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) lâm sinh:
- Thiết lập tuyến điều tra: 4 tuyến điều tra theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, cắt ngang từ chân núi lên đỉnh qua các trạng thái rừng.
- Bố trí ô tiêu chuẩn: Đối với rừng trên núi đá vôi, diện tích mỗi OTC là 500 m² (25 m x 20 m); đối với rừng tự nhiên núi đất, diện tích OTC là 2.500 m² (50 m x 50 m). Trong mỗi OTC, thiết lập 5 ô thứ cấp diện tích 25 m² (5 m x 5 m) theo hai đường chéo để điều tra cây tái sinh và cây bụi; tại tâm mỗi ô thứ cấp lập 1 ô dạng bản diện tích 1 m² (1 m x 1 m) để điều tra thảm tươi, đất và thảm mục.
- Thu thập số liệu lâm sinh:
- Nhóm cây gỗ ($D_{1.3} \ge 5\text{ cm}$): Đo đường kính thân ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính theo hai chiều vuông góc (Đông - Tây và Bắc - Nam) hoặc đo chu vi thân $P$ và tính qua công thức $D = P / \pi$; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) chính xác đến 0,2 m; đánh giá phẩm chất cây thành 3 cấp (A: tốt, B: trung bình, C: xấu); giám định tên loài đạt tỷ lệ $\ge 90%$.
- Cây bụi và thảm tươi: Đánh giá độ nhiều theo thang phân cấp Drude rút gọn (Soc, Cop1, Cop2, Cop3); xác định độ che phủ theo tỷ lệ chiều dài giao cắt trên 2 đường chéo; thu thập sinh khối tươi và lấy mẫu 200 g sấy khô để xác định tỷ lệ chất khô.
- Cây tái sinh: Đo đếm toàn bộ cây hạt trần và cây gỗ tái sinh, phân chia theo 4 cấp chiều cao ($H < 0{,}5\text{ m}$; $0{,}5 - 1\text{ m}$; $1 - 2\text{ m}$; $H > 2\text{ m}$), đánh giá phẩm chất và nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi).
Phương pháp xử lý số liệu toán học thống kê:
- Độ phong phú tương đối: $N_i% = \left(\frac{N_i}{\sum N_i}\right) \times 100$
- Độ ưu thế tương đối (theo tiết diện ngang thân $G$): $G_i% = \left(\frac{G_i}{\sum G_i}\right) \times 100$, với $G_i = \sum \frac{\pi \times D_i^2}{4}$
- Tần số xuất hiện tương đối: $RF_i% = \left(\frac{F_i}{\sum F_i}\right) \times 100$, với $F_i = \left(\frac{\text{Số OTC xuất hiện loài } i}{\text{Tổng số OTC điều tra}}\right) \times 100$
- Chỉ số mức độ quan trọng: $IVI_i% = \frac{N_i% + G_i% + RF_i%}{3}$
- Mật độ lâm phần: $N = \left(\frac{n}{S}\right) \times 10.000\text{ (cây/ha)}$
- Chỉ số tương đồng thành phần loài Soerensen: $SI = \frac{2C}{A + B}$
Nguồn dữ liệu: Số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ các đợt khảo sát thực địa tại xã Triệu Nguyên và xã Ca Thành; số liệu thứ cấp kế thừa từ bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1:25.000, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND huyện Nguyên Bình và thống kê chuyên ngành của Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình.
Nội dung chính theo từng chương
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Trình bày tổng quan về tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng nhiệt đới núi cao và tính cấp thiết của việc bảo tồn nhóm cây lá kim bản địa. Xác định rõ vị trí phân loại của Thiết sam giả lá ngắn trong hệ thống thực vật hạt trần Việt Nam, tình trạng suy thoái quần thể tự nhiên do áp lực nhân sinh, xác lập mục đích, mục tiêu, ý nghĩa học thuật và thực tiễn của đề tài.
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khái quát các luận điểm khoa học về cấu trúc rừng, mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc lâm phần và hoàn cảnh lập địa, quy luật tái sinh tự nhiên từ các công trình quốc tế và trong nước. Tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nguyên Bình:
- Tọa độ địa lý: $105^\circ 40'$ kinh độ Đông, $22^\circ 30'$ đến $22^\circ 50'$ vĩ độ Bắc; địa hình chia cắt mạnh với độ cao trung bình khoảng 1.000 m (đỉnh cao nhất là Phia Oắc đạt 1.931 m, điểm thấp nhất 100 m).
- Địa chất - thổ nhưỡng: Có 18 nhóm đất chính, diện tích đất lâm nghiệp đạt 71.876,67 ha (chiếm 85,65% diện tích tự nhiên), diện tích đất có rừng là 54.689,72 ha với tỷ lệ che phủ rừng đạt 50,8% (năm 2010).
- Khí hậu á nhiệt đới 2 mùa rõ rệt: Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau kèm rét đậm và sương muối; mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình năm $20^\circ\text{C}$, lượng mưa bình quân 1.200 mm/năm.
- Dân sinh - kinh tế: Dân số toàn huyện 39.644 người (mật độ 47 người/km²), gồm 7 dân tộc anh em (Tày và Nùng chiếm 47,0%, Dao 38,7%, Kinh 8,6%, Mông 5,6%, khác 0,1%), kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào canh tác nương rẫy, trồng trúc sào và chăn nuôi gia súc.
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Xác định cụ thể đối tượng điều tra là Thiết sam giả lá ngắn phân bố tại hai xã Ca Thành và Triệu Nguyên. Chi tiết hóa quy trình kỹ thuật bố trí hệ thống ô tiêu chuẩn tạm thời (500 m² trên núi đá và 2.500 m² trên núi đất), ô thứ cấp 25 m², ô dạng bản 1 m². Chuẩn hóa quy trình đo đếm $D_{1.3}$, $H_{vn}$, $H_{dc}$, thu thập mẫu vật giám định thực vật, phân cấp phẩm chất thân cây, đánh giá thảm mục và phân lập cây tái sinh; thiết lập công thức toán học tính toán các chỉ số $IVI$, mật độ $N$, tần số xuất hiện và cấu trúc phân bố.
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tập trung phân tích các đặc trưng cấu trúc lâm phần có Thiết sam giả lá ngắn ở hai đai cao ($> 1.000\text{ m}$ và $< 1.000\text{ m}$ thuộc trạng thái rừng IIb):
Cấu trúc tổ thành sinh thái và mật độ tầng cây gỗ:
- Ở đai cao $> 1.000\text{ m}$: Tổng mật độ tầng cây gỗ đạt 996 cây/ha. Thiết sam giả lá ngắn đóng vai trò ưu thế sinh thái tuyệt đối với mật độ 532 cây/ha, chiếm 54,63% về số cá thể, 60,98% về tiết diện ngang thân, tần số xuất hiện tương đối 19,48%, chỉ số $IVI = 45{,}03%$, $D_{1.3}$ trung bình đạt 13,69 cm và $H_{vn}$ trung bình đạt 7,30 m. Các loài đi kèm gồm Côm tầng ($IVI = 11{,}21%$), Kháo vàng ($IVI = 8{,}65%$), Sồi phảng ($IVI = 8{,}40%$), Sến mật ($IVI = 6{,}96%$) và 10 loài khác ($IVI = 19{,}75%$).
Công thức tổ thành: $45{,}03\text{Tsgln} + 11{,}21\text{Ct} + 8{,}65\text{Kv} + 8{,}40\text{Sp} + 6{,}96\text{Sm} + 19{,}75\text{Lk}$.
- Ở đai cao $< 1.000\text{ m}$: Tổng mật độ tầng cây gỗ đạt 863 cây/ha (11 loài). Thiết sam giả lá ngắn vẫn là loài chiếm ưu thế nhất với mật độ 427 cây/ha, $N_i% = 48{,}0%$, $G_i% = 56{,}28%$, $RF_i% = 21{,}43%$, $IVI = 41{,}90%$, $D_{1.3}$ trung bình 12,32 cm, $H_{vn}$ trung bình 7,03 m. Loài đi kèm ưu thế thứ hai là Cẩm chỉ (mật độ 157 cây/ha, $IVI = 20{,}39%$), tiếp theo là Sồi phảng ($IVI = 9{,}01%$), Kháo vàng ($IVI = 8{,}04%$) và các loài khác ($IVI = 20{,}66%$).
Công thức tổ thành: $41{,}90\text{Tsgln} + 20{,}39\text{Cc} + 9{,}01\text{S} + 8{,}04\text{Kv} + 20{,}66\text{Lk}$.
Đặc điểm cấu trúc ngang:
- Phân bố số cây theo cấp đường kính ($N/D$): Ở cả hai đai cao, phân bố số cây theo cấp kính đều có xu hướng giảm dần khi cấp đường kính tăng.
- Đai cao $> 1.000\text{ m}$: Cấp I (5 – 10 cm) có 418 cây; cấp II (10 – 15 cm) có 351 cây; cấp III (15 – 20 cm) có 175 cây; cấp IV (20 – 25 cm) có 62 cây; cấp V (25 – 30 cm) có 12 cây; cấp VI (30 – 35 cm) có 5 cây; cấp VII (35 – 40 cm) chỉ có 2 cây; cấp VIII (40 – 45 cm) không có cây nào.
- Đai cao $< 1.000\text{ m}$: Tập trung chủ yếu ở cấp I (328 cây) và cấp II (350 cây); cấp III có 68 cây; cấp IV có 47 cây; cấp V có 7 cây; từ cấp VI ($> 30\text{ cm}$) trở lên hoàn toàn vắng bóng.
- Phân bố loài theo cấp kính: Đa dạng loài cao nhất ở cấp kính nhỏ 5 – 15 cm (13 – 14 loài) và suy giảm rõ rệt ở các cấp kính lớn $> 25\text{ cm}$.
- Phân bố loài theo nhóm tần số xuất hiện: Số loài tập trung cao nhất ở nhóm tần số $0 - 20%$ và $20 - 40%$, phản ánh tính chất phân tán của đa số các loài cây phụ trợ.
Đặc điểm cấu trúc đứng:
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao ($N/H$): Cả hai vị trí đều thể hiện đồ thị phân bố một đỉnh lệch trái.
- Ở đai $> 1.000\text{ m}$: Cấp I (0 – 5 m) có 102 cây (chiếm 9,31%); đạt cực đại ở cấp II (5 – 10 m) với 888 cây (chiếm 50,26%); cấp III (10 – 15 m) giảm xuống 35 cây (chiếm 32,28%); các cấp chiều cao $> 15\text{ m}$ không có cá thể.
- Ở đai $< 1.000\text{ m}$: Cấp I (0 – 5 m) có 154 cây (chiếm 24,94%); đạt đỉnh ở cấp II (5 – 10 m) với 557 cây (chiếm 62,68%); cấp III (10 – 15 m) còn 39 cây (chiếm 10,69%).
- Phân bố loài theo tầng phiến: Tầng cây gỗ chiếm ưu thế cao nhất về số loài ở cả hai vị trí ($15\text{ loài}$ ở đai $> 1.000\text{ m}$ và $14\text{ loài}$ ở đai $< 1.000\text{ m}$), tiếp đến là nhóm cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng.
| Chỉ tiêu lâm sinh |
Đai cao $> 1.000\text{ m}$ |
Đai cao $< 1.000\text{ m}$ |
| Mật độ tầng cây gỗ |
996 cây/ha |
863 cây/ha |
| Mật độ Thiết sam giả lá ngắn |
532 cây/ha ($IVI = 45{,}03%$) |
427 cây/ha ($IVI = 41{,}90%$) |
| Đường kính $D_{1.3}$ trung bình TSGLN |
13,69 cm |
12,32 cm |
| Chiều cao $H_{vn}$ trung bình TSGLN |
7,30 m |
7,03 m |
| Loài đi kèm ưu thế chính |
Côm tầng ($IVI = 11{,}21%$) |
Cẩm chỉ ($IVI = 20{,}39%$) |
| Mật độ cây tái sinh tự nhiên |
2.807 cây/ha |
1.757 cây/ha |
| Tỷ lệ tái sinh Thiết sam giả lá ngắn |
30,40% (853 cây/ha) |
11,38% (200 cây/ha) |
Đặc điểm tái sinh tự nhiên:
- Cấu trúc tổ thành cây tái sinh:
- Ở đai $> 1.000\text{ m}$: Tổng mật độ cây tái sinh đạt 2.807 cây/ha (2.105 cây đo đếm). Thiết sam giả lá ngắn có mật độ tái sinh cao nhất với 853 cây/ha (chiếm 30,40%), tiếp theo là Diệp hạ châu (407 cây/ha, chiếm 14,49%), Mã sưa lá nhỏ (297 cây/ha, chiếm 10,59%) và các loài khác (1.250 cây/ha, chiếm 52,20%).
- Ở đai $< 1.000\text{ m}$: Tổng mật độ cây tái sinh đạt 1.757 cây/ha (1.318 cây đo đếm). Cẩm chỉ chiếm ưu thế tái sinh cao nhất với 755 cây/ha (chiếm 42,94%); Thiết sam giả lá ngắn đứng thứ hai với 200 cây/ha (chiếm 11,38%); tiếp đến là Hồi núi (169 cây/ha, chiếm 9,64%), Kháo vàng (100 cây/ha, chiếm 5,69%), Diệp hạ châu (93 cây/ha, chiếm 5,31%) và các loài khác (440 cây/ha, chiếm 25,04%).
- Phân bố cây tái sinh Thiết sam giả lá ngắn theo cấp chiều cao (đai $> 1.000\text{ m}$): Tập trung nhiều nhất ở cấp I ($0 - 0{,}5\text{ m}$) với 242 cây (chiếm 37,8%); cấp II ($0{,}5 - 1\text{ m}$) có 159 cây (chiếm 24,8%); cấp III ($1 - 2\text{ m}$) có 93 cây (chiếm 14,5%); cấp IV ($> 2\text{ m}$) có 146 cây (chiếm 22,9%).
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tổng hợp toàn bộ các kết luận rút ra từ các chỉ tiêu định lượng về cấu trúc ngang, cấu trúc đứng và khả năng tái sinh của loài Thiết sam giả lá ngắn ở hai đai cao; đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý lâm nghiệp địa phương trong việc khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt nguồn gen nguy cấp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về cấu trúc quần thể loài Thiết sam giả lá ngắn tại huyện Nguyên Bình:
- Xác định vị trí ưu thế sinh thái: Thiết sam giả lá ngắn là loài ưu thế tuyệt đối trong tầng cây gỗ ở cả hai đai cao tại khu vực nghiên cứu, đạt $IVI = 45{,}03%$ (đai $> 1.000\text{ m}$) và $IVI = 41{,}90%$ (đai $< 1.000\text{ m}$).
- Làm rõ cấu trúc phân bố lâm phần: Cấu trúc số cây theo cấp kính ($N/D$) thể hiện xu hướng giảm dần liên tục khi cấp kính tăng; các cá thể có đường kính lớn ($D_{1.3} > 30\text{ cm}$) rất hiếm gặp (chỉ có 7 cây ở đai cao $> 1.000\text{ m}$ và không xuất hiện ở đai $< 1.000\text{ m}$). Cấu trúc số cây theo cấp chiều cao ($N/H$) có dạng một đỉnh lệch trái, tập trung mật độ cao nhất ở tầng chiều cao trung bình 5 – 10 m (chiếm trên 50% tổng số cây).
- Đánh giá thực trạng tái sinh: Mật độ và tỷ lệ tái sinh của Thiết sam giả lá ngắn ở đai cao $> 1.000\text{ m}$ (853 cây/ha, chiếm 30,40%) cao hơn đáng kể so với đai cao $< 1.000\text{ m}$ (200 cây/ha, chiếm 11,38%). Cây tái sinh chủ yếu tập trung ở cấp chiều cao nhỏ dưới 0,5 m (37,8%), lượng cây con chuyển tiếp lên các cấp chiều cao lớn hơn bị suy giảm.
Các giải pháp do tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật: Áp dụng biện pháp bảo vệ nguyên vẹn các lâm phần có Thiết sam giả lá ngắn phân bố; tiến hành khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp các biện pháp điều tiết độ tàn che tán rừng hợp lý để hỗ trợ cây con sinh trưởng; nghiên cứu thử nghiệm nhân giống từ hạt và giâm hom phục vụ công tác bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) và trồng bổ sung dưới tán rừng nghèo kiệt.
- Giải pháp quản lý: Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình, Ban quản lý Khu bảo tồn và chính quyền hai xã Ca Thành, Triệu Nguyên; đẩy mạnh công tác tuần tra ngăn chặn triệt để hành vi khai thác, chặt hạ cây gỗ làm thủ công mỹ nghệ; lồng ghép công tác giao khoán bảo vệ rừng với các chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương (Tày, Nùng, Dao, Mông) nhằm giảm áp lực xâm hại tài nguyên rừng.
Đóng góp của khóa luận: Bổ sung nguồn tư liệu thực địa có hệ thống về cấu trúc quần xã và sinh thái học tái sinh của loài Thiết sam giả lá ngắn tại tỉnh Cao Bằng, góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu định lượng phục vụ công tác bảo tồn loài hạt trần quý hiếm này tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi không gian nghiên cứu mới chỉ tập trung tại hai xã Ca Thành và Triệu Nguyên của huyện Nguyên Bình, chưa mở rộng điều tra toàn diện trên toàn bộ các dải núi đá vôi khác thuộc tỉnh Cao Bằng và các tỉnh lân cận (Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn).
- Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 02 đến tháng 05/2014), chưa theo dõi được đầy đủ các giai đoạn vật hậu học (ra hoa, kết nón, phát tán hạt) qua các mùa trong năm.
- Chưa đi sâu phân tích đặc điểm hóa - lý đất chuyên sâu tại từng vi lập địa cũng như các nghiên cứu di truyền phân tử quần thể.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điều tra cấu trúc quần thể và hiện trạng phân bố của Thiết sam giả lá ngắn trên toàn vùng Đông Bắc Việt Nam.
- Thiết lập các ô định vị dài hạn để theo dõi động thái sinh trưởng, tỷ lệ sống sót và các yếu tố cản trở sinh thái trong quá trình chuyển tiếp từ mạ sang cây con và cây nhỡ.
- Thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về sinh lý nảy mầm hạt giống và hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống sinh dưỡng phục vụ phục hồi sinh thái rừng núi đá vôi.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và Nông Lâm kết hợp làm tài liệu tham khảo về phương pháp điều tra lâm sinh trên lập địa núi đá vôi hiểm trở.
- Cán bộ quản lý tại các Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng phương án quản lý, bảo vệ và giám sát nguồn gen thực vật nguy cấp thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Sách Đỏ Việt Nam.
- Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp luận tính toán chỉ số giá trị quan trọng ($IVI$), quy trình lập ô tiêu chuẩn đa cấp (OTC 500 – 2.500 m², ô thứ cấp 25 m², ô dạng bản 1 m²) và hệ thống số liệu định lượng về phân bố $N/D$, $N/H$ cùng cấu trúc tổ thành tái sinh của Thiết sam giả lá ngắn.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số mức độ quan trọng ($IVI$) của loài Thiết sam giả lá ngắn tại khu vực nghiên cứu đạt bao nhiêu?
Chỉ số $IVI$ của Thiết sam giả lá ngắn đạt $45{,}03%$ ở đai cao $> 1.000\text{ m}$ (mật độ 532 cây/ha, $N_i = 54{,}63%$, $G_i = 60{,}98%$, $RF_i = 19{,}48%$) và đạt $41{,}90%$ ở đai cao $< 1.000\text{ m}$ (mật độ 427 cây/ha, $N_i = 48{,}0%$, $G_i = 56{,}28%$, $RF_i = 21{,}43%$), giữ vai trò ưu thế sinh thái cao nhất trong tầng cây gỗ ở cả hai đai cao.
2. Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính ($N/D$) của Thiết sam giả lá ngắn có đặc điểm gì?
Số cây tập trung chủ yếu ở các cấp đường kính nhỏ từ 5 đến 15 cm và giảm dần khi cấp đường kính tăng lên. Ở đai cao $> 1.000\text{ m}$, cấp kính 5 – 10 cm có 418 cây, cấp 10 – 15 cm có 351 cây và chỉ còn 2 cây ở cấp 35 – 40 cm; ở đai cao $< 1.000\text{ m}$, không ghi nhận cá thể nào có đường kính đạt từ 30 cm trở lên.
3. Khả năng tái sinh tự nhiên của Thiết sam giả lá ngắn khác biệt như thế nào giữa hai đai cao?
Ở đai cao $> 1.000\text{ m}$, Thiết sam giả lá ngắn tái sinh tốt với mật độ 853 cây/ha, chiếm tỷ lệ tổ thành cao nhất ($30{,}40%$). Ngược lại, ở đai cao $< 1.000\text{ m}$, mật độ tái sinh của loài giảm mạnh xuống còn 200 cây/ha, chỉ chiếm $11{,}38%$ tổ thành (đứng sau loài Cẩm chỉ với 755 cây/ha, chiếm $42{,}94%$).
4. Khóa luận sử dụng kích thước các loại ô tiêu chuẩn điều tra như thế nào?
Tác giả thiết lập OTC tạm thời diện tích 500 m² (25 m x 20 m) đối với rừng trên núi đá vôi và 2.500 m² (50 m x 50 m) đối với rừng trên núi đất; bên trong mỗi OTC bố trí 5 ô thứ cấp diện tích 25 m² (5 m x 5 m) theo đường chéo để điều tra cây bụi, cây tái sinh; tại tâm mỗi ô thứ cấp đặt 1 ô dạng bản 1 m² (1 m x 1 m) bằng khung nhựa để điều tra thảm tươi và sinh khối thảm mục.
5. Tình trạng bảo tồn pháp lý và phân hạng nguy cấp của Thiết sam giả lá ngắn được ghi nhận ra sao?
Thiết sam giả lá ngắn được xếp ở cấp Sẽ nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2007), đồng thời được đề nghị đưa vào danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Bế Ích Lượng đã làm sáng tỏ các đặc điểm cấu trúc lâm phần và khả năng tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia) tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Kết quả điều tra thực nghiệm khẳng định loài giữ vị trí ưu thế sinh thái nổi trội ở tầng cây gỗ nhưng cấu trúc đường kính bị suy thoái ở các cấp kính lớn và mật độ tái sinh có sự chênh lệch rõ rệt theo đai cao. Hệ thống dữ liệu định lượng và các giải pháp lâm sinh, quản lý được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn nguồn gen thực vật hạt trần nguy cấp tại các hệ sinh thái núi đá vôi phía Bắc Việt Nam.