Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu cấu trúc hạt nhân tại các trạng thái kích thích cao từ 4 MeV đến năng lượng liên kết nơtron là một trong những lĩnh vực phức tạp hàng đầu của vật lý thực nghiệm và lý thuyết. Vấn đề cốt lõi mà thực nghiệm truyền thống gặp phải là sự xuất hiện của nền phông Compton dày đặc, làm che khuất các chuyển dời gamma có cường độ nhỏ và gây sai số lớn khi xác định sơ đồ mức năng lượng. Luận văn tập trung giải quyết bài toán này thông qua việc ứng dụng phương pháp cộng biên độ các xung trùng phùng tại kênh dẫn dòng nơtron số 3 của Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, vận hành ở công suất định mức 500 kW với thông lượng nơtron nhiệt tại vị trí mẫu đạt khoảng 2,45 nhân 10 mũ 5 nơtron trên centimet vuông trong một giây.

Mục tiêu cụ thể của công trình là tối ưu hóa hệ phổ kế trùng phùng hai detector bán dẫn siêu tinh khiết, đo đạc phổ phân rã gamma nối tầng của hạt nhân Clo-36 và Titan-49 qua phản ứng bắt nơtron nhiệt, từ đó trích xuất các phổ vi phân và xác định chính xác sơ đồ phân rã. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm toàn diện trong giai đoạn 2005–2006 tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Kết quả đạt được mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi giảm hơn 30% ảnh hưởng phông bức xạ so với các hệ đo gamma đơn tinh thể truyền thống, nâng tỷ số diện tích đỉnh trên phông lên gấp nhiều lần, đồng thời xác định năng lượng các mức chuyển dời với độ chính xác cao đạt độ lệch dưới 1 keV.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình khí Fermi dịch chuyển ngược kết hợp với phương pháp bổ chính lớp Strutinsky để mô tả mật độ mức hạt nhân trong dải năng lượng kích thích từ 0 đến 10 MeV. Mô hình này tính toán sự phụ thuộc của mật độ mức vào năng lượng kích thích và mômen góc, đồng thời tích hợp hiệu ứng tương tác cặp siêu chảy của các nucleon để hiệu chỉnh cho các hạt nhân có số khối lẻ và chẵn. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết nhiễu loạn trường điện từ với hằng số tương tác 1/137 của Weisskopf và mô hình cộng hưởng khổng lồ lưỡng cực điện E1 để đánh giá độ rộng phóng xạ riêng phần, sử dụng hệ số hàm lực bức xạ thực nghiệm trong khoảng 3 nhân 10 mũ trừ 15 đến 4 nhân 10 mũ trừ 15 trên MeV lũy thừa 5.

Ba khái niệm học thuật trung tâm chi phối toàn bộ phân tích gồm: mật độ mức hạt nhân biểu thị số trạng thái lượng tử trên một đơn vị năng lượng; chuyển dời gamma nối tầng phản ánh quá trình phân rã hai bước liên tiếp từ trạng thái hợp phần về trạng thái cơ bản; và phổ vi phân được tạo thành khi cố định tổng năng lượng của hai tia gamma trùng phùng bằng đúng năng lượng chuyển dời nối tầng hoàn toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ phản ứng bắt nơtron nhiệt trên hai cụm mẫu bia đồng vị chuẩn gồm Clo-35 và Titan-48 với cỡ mẫu thu nhận đạt trên 100.000 sự kiện trùng phùng gamma-gamma được ghi nhận liên tục trong các đợt chiếu xạ tại kênh số 3. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu được thực hiện dựa trên tiêu chí các hạt nhân có tiết diện bắt nơtron nhiệt cao, cấu trúc mức năng lượng trung gian phong phú và năng lượng liên kết nơtron nằm trong dải từ 8,0 đến 8,6 MeV nhằm kiểm chứng độ nhạy của hệ đo.

Lý do lựa chọn phương pháp cộng biên độ các xung trùng phùng là khả năng loại bỏ hoàn toàn các phân bố liên tục do tán xạ Compton gây ra, giúp tách biệt các đỉnh hấp thụ quang điện toàn phần đối xứng nhau qua tâm một nửa năng lượng tổng với sai số biến đổi kênh dưới 0,01%. Dữ liệu tương tự từ hai detector bán dẫn siêu tinh khiết GC2018 được số hóa qua hai bộ chuyển đổi tương tự sang số ADC 8713 với cửa sổ phân giải thời gian trùng phùng 10 nano giây và độ rộng xung cổng tối thiểu 250 nano giây. Quá trình xử lý số liệu sử dụng thuật toán bình phương tối thiểu chi-bình phương kết hợp mô phỏng ngẫu nhiên Monte Carlo với 70 bước lặp để loại trừ các mức giả. Toàn bộ chuỗi dữ liệu thực nghiệm được thu thập và phân tích liên tục từ tháng 8 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã xây dựng thành công đường chuẩn năng lượng tuyến tính cho cả hai detector với hệ số tương quan đạt trên 0,9999 trong dải năng lượng từ 436 keV đến 7413 keV, trong đó độ lệch tuyệt đối giữa năng lượng thực nghiệm và năng lượng chuẩn không vượt quá 0,98 keV.

Thứ hai, đối với hạt nhân Clo-36 tạo thành từ phản ứng Clo-35 bắt nơtron với năng lượng liên kết 8579 keV, nghiên cứu đã phân tích chi tiết ba đỉnh phổ vi phân đặc trưng tại các mức năng lượng tổng 8579 keV, 5867 keV và 5462 keV. Đặc biệt, luận văn đã phát hiện và bổ sung thành công một mức năng lượng mới tại 3723 keV (tương ứng chuyển dời từ mức 4886 keV về mức 1164 keV), làm phong phú thêm sơ đồ mức năng lượng so với số liệu được Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos công bố năm 2001.

Thứ ba, đối với hạt nhân Titan-49 với năng lượng liên kết 8142 keV, nghiên cứu đã trích xuất thành công các phổ vi phân tại đỉnh tổng 8142 keV và 7801 keV, qua đó giải mã và sắp xếp được trên 65% các chuyển dời nối tầng quan sát được vào sơ đồ phân rã mức năng lượng chính thức.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự vượt trội về chất lượng phổ là nhờ mạch trùng phùng nhanh đặt ngưỡng cửa sổ 10 nano giây kết hợp cấu hình hai detector đặt đối diện nhau 180 độ, giúp thu nhận tối đa các cặp lượng tử gamma phát ra đồng thời theo định luật bảo toàn động lượng và triệt tiêu hầu hết phông môi trường. Dữ liệu thực nghiệm được thể hiện trực quan thông qua đồ thị đường cong hiệu suất ghi tương đối dạng đa thức bậc 4 biến đổi theo hàm logarit năng lượng, kết hợp bảng ma trận đối sánh năng lượng giữa thực nghiệm và thư viện quốc tế. Trên các biểu đồ phổ vi phân hai chiều, các cặp đỉnh phân rã nối tầng luôn xuất hiện đối xứng hoàn hảo qua trục đối xứng một nửa tổng năng lượng với diện tích đỉnh tương đương nhau, giúp việc xác định các nhánh chuyển dời sơ cấp và thứ cấp đạt độ tin cậy vượt bậc.

So với các kết quả đo đơn phổ kinh điển vốn có độ bất định lên đến 3–5 keV, phương pháp trong luận văn đã thu hẹp sai số xác định vị trí đỉnh xuống chỉ còn 1,0 đến 1,5 keV. Điều này chứng minh rằng việc kết hợp dữ liệu phản ứng bắt nơtron phát hai photon với phản ứng phát đơn photon là giải pháp tối ưu để xây dựng sơ đồ phân rã hạt nhân chính xác ở vùng năng lượng kích thích cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp khối thu nhận dữ liệu giao tiếp máy tính sang hệ thống số hóa đa kênh thế hệ mới nhằm giảm thời gian chết của bộ biến đổi ADC từ mức micro giây hiện tại xuống dưới 200 nano giây, mục tiêu nâng tốc độ xử lý sự kiện lên gấp 3 lần trong vòng 6 tháng tới do Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt chủ trì thực hiện.

Thứ hai, mở rộng thời gian đo thực nghiệm liên tục từ 100 giờ lên tối thiểu 250 giờ cho mỗi bia mẫu nhằm tăng độ tích lũy thống kê diện tích đỉnh, giúp phát hiện các chuyển dời gamma có cường độ phân rã siêu nhỏ dưới 0,01% trong kế hoạch nghiên cứu giai đoạn 2026–2027 do nhóm chuyên gia vật lý thực nghiệm triển khai.

Thứ ba, hoàn thiện thuật toán phân tích phổ tự động bằng cách tích hợp phương pháp ngẫu nhiên Monte Carlo nâng cao với số vòng lặp trên 200 bước, giảm thiểu xác suất xuất hiện mức năng lượng giả xuống dưới 1% trước quý IV do các nhà nghiên cứu thuộc các trường đại học khối tự nhiên phối hợp xây dựng.

Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa quốc gia lưu trữ toàn bộ phổ vi phân và thông số cấu trúc mức của các hạt nhân trung bình và nặng, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa 100% dữ liệu vật lý hạt nhân phục vụ nghiên cứu ứng dụng bức xạ trong lộ trình 12 tháng do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Vật lý hạt nhân: Tài liệu cung cấp cơ sở toán học và quy trình thực nghiệm chi tiết về phổ kế trùng phùng, là tài liệu tham khảo trực tiếp khi xây dựng các mô hình phân tích phân rã gamma phức tạp.

Kỹ sư vận hành lò phản ứng và an toàn bức xạ: Cung cấp số liệu đo đạc thực tế về suất liều gamma và nơtron tại 7 vị trí trọng yếu quanh kênh dẫn dòng nơtron, hỗ trợ trực tiếp cho công tác tối ưu hóa che chắn bức xạ chì dày 5 cm và paraffin tẩm bo.

Chuyên gia phân tích dữ liệu hạt nhân và cấu trúc vật liệu: Ứng dụng các thuật toán giải mã phổ vi phân và khớp đường cong hiệu suất ghi bằng phương pháp bình phương tối thiểu để xử lý số liệu phổ kế trong phân tích kích hoạt nơtron.

Giảng viên các trường đại học khối kỹ thuật và khoa học tự nhiên: Sử dụng toàn bộ cấu trúc bài đo, sơ đồ khối mạch điện tử hạt nhân và các ví dụ thực tế của Clo-36 và Titan-49 làm giáo trình giảng dạy chuyên sâu cho học phần Vật lý hạt nhân thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

Hệ phổ kế cộng biên độ các xung trùng phùng có ưu thế gì so với phổ kế gamma thông thường? Hệ thống này triệt tiêu phần lớn nền phông tán xạ Compton liên tục bằng cách chỉ ghi nhận các sự kiện mà hai tia gamma bị hấp thụ hoàn toàn trong hai detector cùng lúc. Nhờ vậy, tỷ số đỉnh trên phông tăng lên hàng chục lần, cho phép phân tích rõ nét các chuyển dời gamma có cường độ thấp dưới 0,05% mà phổ kế đơn tinh thể không thể phát hiện.

Tại sao nghiên cứu lại lựa chọn hai hạt nhân Clo-35 và Titan-48 để thực nghiệm? Clo-35 và Titan-48 là hai đồng vị mẫu có tiết diện bắt nơtron nhiệt lớn và cấu trúc mức hạt nhân trung gian đặc trưng. Năng lượng liên kết nơtron của chúng lần lượt là 8579 keV và 8142 keV, tạo ra dải phổ gamma nối tầng rộng từ 0,5 đến 8,0 MeV, rất lý tưởng để hiệu chuẩn đường cong hiệu suất và kiểm tra độ chính xác của hệ đo.

Làm thế nào để xác định thứ tự của các chuyển dời gamma sơ cấp và thứ cấp trong phổ vi phân? Do thời gian phân giải của detector lớn hơn thời gian phân rã nối tầng, thứ tự chuyển dời được xác định bằng cách so sánh năng lượng đỉnh với các mức trung gian đã biết trong thư viện dữ liệu hạt nhân. Thông thường, chuyển dời có năng lượng cao hơn được ưu tiên xếp làm chuyển dời sơ cấp theo quy luật xác suất bức xạ tỷ lệ với lũy thừa năng lượng.

Hệ thống che chắn bức xạ tại kênh số 3 Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt có an toàn không? Hệ thống được bọc chắn đa lớp gồm các khối chì dày tối thiểu 5 cm, paraffin tẩm bo, cadimi và bê tông nặng. Kết quả đo kiểm xạ thực tế tại 7 vị trí thao tác cho thấy suất liều bức xạ gamma và nơtron khi mở kênh hoàn toàn nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn an toàn bức xạ quốc gia.

Mức năng lượng mới 3723 keV phát hiện ở Clo-36 có ý nghĩa khoa học như thế nào? Mức năng lượng mới này được xác định chính xác từ chuyển dời giữa mức kích thích 4886 keV về mức 1164 keV, đã được kiểm chứng đối sánh với cơ sở dữ liệu của Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos năm 2001. Phát hiện này giúp hoàn thiện sơ đồ phân rã của Clo-36 và bổ sung số liệu thực nghiệm quý giá cho vật lý hạt nhân thế giới.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập và vận hành thành công hệ phổ kế cộng biên độ các xung trùng phùng tại kênh dẫn dòng nơtron số 3 Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, đạt độ ổn định cao và giảm phông bức xạ trên 30%.
  • Xây dựng đường cong hiệu suất ghi tương đối và đường chuẩn năng lượng tuyến tính cho hai detector bán dẫn siêu tinh khiết trong dải 0,5 đến 8,0 MeV với độ lệch kênh cực nhỏ dưới 0,98 keV.
  • Giải mã chi tiết cấu trúc phân rã gamma nối tầng của Clo-36 và Titan-49, phát hiện thành công mức năng lượng mới 3723 keV ở Clo-36 so với các công bố quốc tế trước đó.
  • Hoàn thiện thuật toán mô phỏng xử lý phổ vi phân và loại bỏ mức giả với độ chính xác vị trí mức năng lượng đạt khoảng 1,0 đến 1,5 keV.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và quy trình đo đạc tiêu chuẩn cho ngành vật lý hạt nhân thực nghiệm tại Việt Nam.

Kế hoạch tiếp theo trong 12 tháng tới tập trung vào việc tự động hóa hoàn toàn hệ thu nhận dữ liệu và mở rộng bài đo sang các hạt nhân vùng biến dạng có số khối lớn hơn 150. Độc giả và các nhóm nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay khung phương pháp này vào các đề tài phân tích cấu trúc hạt nhân và phân tích kích hoạt nơtron tại các cơ sở nghiên cứu bức xạ trên toàn quốc.