Luận văn thạc sĩ về câu phủ định tiếng Hán và sự đối chiếu với tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh câu phủ định tiếng hán trong sự đối chiếu với tiếng việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

95
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC PHIÊN ÂM TỪ PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN TRONG LUẬN VĂN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử vấn đề

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp của luận văn

1.7. Cấu trúc của luận văn

2. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Phủ định xét về mặt lô-gích học

2.1.1. Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung

2.1.2. Khái niệm phủ định trong lô-gích toán

2.2. Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định trên quan điểm ngôn ngữ học

3. CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

3.1. Một số nguyên tắc cần bàn luận

3.2. Phạm vi nghiên cứu của cấu trúc phủ định trong luận văn

3.3. Câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ

3.4. Đặc trưng cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán

3.4.1. Các phương thức thể hiện câu phủ định

3.4.2. Loại hình của câu phủ định

3.4.3. Sự phân bố của các từ phủ định trong tiếng Hán hiện đại

3.5. Những đặc trưng cấu trúc của câu phủ định tiếng Việt

3.5.1. Các phương thức thể hiện câu phủ định

3.5.2. Phân loại của câu phủ định

3.5.3. Sự phân bố của các từ phủ định trong tiếng Việt hiện đại

4. CHƯƠNG III: ĐỐI CHIẾU CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT

4.1. Sự tương đồng và khác biệt cơ bản về phương thức phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt

4.1.1. Sự tương đồng trong phương thức phủ định

4.1.2. Sự khác nhau về phương thức phủ định

4.2. Sự tương đồng và khác biệt cơ bản về cấu trúc phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt

4.2.1. Sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc phủ định giữa “不” và “không”

4.2.2. Sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc phủ định giữa “没” và “chẳng/chả”

4.2.3. Cấu trúc và từ phủ định đặc biệt “别” với từ phủ định “đừng” trong tiếng Việt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt

Câu phủ định là một phần quan trọng trong ngôn ngữ học, giúp thể hiện tư duy và cách nhìn nhận của con người về thế giới xung quanh. Nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngữ pháp của hai ngôn ngữ này mà còn mở ra những cơ hội cho việc học tập và giao tiếp hiệu quả hơn. Việc so sánh cấu trúc câu phủ định giữa hai ngôn ngữ sẽ làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó giúp người học có cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ mà họ đang nghiên cứu.

1.1. Khái niệm câu phủ định trong tiếng Hán

Câu phủ định trong tiếng Hán thường được thể hiện qua các từ như "不" và "没". Những từ này không chỉ mang ý nghĩa phủ định mà còn có những đặc điểm ngữ pháp riêng biệt. Việc hiểu rõ cách sử dụng các từ này là rất quan trọng trong việc giao tiếp và viết văn trong tiếng Hán.

1.2. Khái niệm câu phủ định trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, câu phủ định thường sử dụng các từ như "không", "chẳng", và "đừng". Những từ này giúp thể hiện sự phủ định một cách rõ ràng và chính xác. Việc nắm vững cách sử dụng các từ phủ định này sẽ giúp người học tiếng Việt giao tiếp hiệu quả hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu câu phủ định

Mặc dù câu phủ định là một phần quan trọng trong ngôn ngữ, nhưng việc nghiên cứu nó vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự khác biệt trong cách sử dụng và cấu trúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Điều này có thể gây khó khăn cho người học khi tiếp cận và sử dụng câu phủ định trong ngôn ngữ mà họ đang học.

2.1. Sự khác biệt trong cấu trúc câu phủ định

Cấu trúc câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt có nhiều điểm khác biệt. Ví dụ, trong tiếng Hán, từ phủ định thường đứng trước động từ, trong khi tiếng Việt có thể đặt từ phủ định ở nhiều vị trí khác nhau trong câu. Điều này đòi hỏi người học phải nắm vững quy tắc ngữ pháp của từng ngôn ngữ.

2.2. Khó khăn trong việc chuyển ngữ câu phủ định

Việc chuyển ngữ câu phủ định từ tiếng Hán sang tiếng Việt và ngược lại có thể gặp khó khăn do sự khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ pháp. Người học cần phải chú ý đến ngữ cảnh và cách sử dụng từ phủ định để tránh những hiểu lầm không đáng có.

III. Phương pháp nghiên cứu câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt

Để nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ pháp, so sánh đối chiếu và thống kê. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ giúp làm rõ hơn những đặc điểm của câu phủ định trong hai ngôn ngữ.

3.1. Phương pháp phân tích ngữ pháp

Phân tích ngữ pháp giúp xác định cấu trúc và cách sử dụng của câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt. Phương pháp này cho phép người nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách mà các từ phủ định hoạt động trong ngữ cảnh cụ thể.

3.2. Phương pháp so sánh đối chiếu

So sánh đối chiếu giữa câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt giúp làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt. Phương pháp này không chỉ giúp người học nhận diện được các cấu trúc ngữ pháp mà còn giúp họ áp dụng vào thực tiễn giao tiếp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu câu phủ định

Nghiên cứu câu phủ định không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ cấu trúc và cách sử dụng câu phủ định sẽ giúp người học tiếng Hán và tiếng Việt giao tiếp hiệu quả hơn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong môi trường học tập.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong giảng dạy tiếng Hán và tiếng Việt, giúp giáo viên thiết kế các bài học hiệu quả hơn. Việc này sẽ giúp học sinh nắm vững cách sử dụng câu phủ định trong ngữ cảnh thực tế.

4.2. Ứng dụng trong giao tiếp hàng ngày

Hiểu rõ về câu phủ định sẽ giúp người học tự tin hơn trong giao tiếp hàng ngày. Họ có thể sử dụng câu phủ định một cách chính xác và tự nhiên, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của mình.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu câu phủ định

Nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu ngôn ngữ học. Việc hiểu rõ về câu phủ định không chỉ giúp nâng cao khả năng giao tiếp mà còn góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ học nói chung. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị mới cho cả người học và người dạy.

5.1. Tương lai của nghiên cứu ngôn ngữ học

Nghiên cứu câu phủ định sẽ tiếp tục được mở rộng, với nhiều phương pháp và cách tiếp cận mới. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm kho tàng kiến thức về ngôn ngữ học.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về ngữ nghĩa của câu phủ định trong các ngữ cảnh khác nhau. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của câu phủ định trong giao tiếp và tư duy.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh câu phủ định tiếng hán trong sự đối chiếu với tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Phủ định xét về mặt lô-gích học 1.1 Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung Từ xưa đến nay, phủ định đã là một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học và lô-gích học cùng quan tâm chú ý. Từ góc nhìn của một mệnh đề lô-gích, thì phủ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định có đặc tính để xem xét và làm thay đổi một mệnh đề có đúng hay không. Mệnh đề gồm có hai mặt là mệnh đề khẳng định và mệnh đề phủ định tương ứng của nó, và trong hai mệnh đề này chắc chắn sẽ có và chỉ có một mệnh đề đúng, quy luật này được gọi là quy luật của mâu thuẫn. Nếu tiến hành việc phủ định của một mệnh đề phủ định, thì chúng ta sẽ có một mệnh đề khẳng định tương ứng, và đây chính là quy luật phủ định của phủ định.

Trong trường hợp này, khẳng định với phủ định tương ứng với nhau. Nhà lô-gích học Frege cho rằng: mỗi một tư tưởng và cách suy nghĩ đều có một tư tưởng mâu thuẫn trái ngược với tư tưởng vốn còn đó.2 Khái niệm phủ định trong lô-gích toán Với mệnh đề trong lô-gích toán - một phân ngành của lô-gích học thường dùng số 1 hay số 0 biểu thị sự đúng sai của mệnh đề: mệnh đề có giá trị chân lý tức mệnh đề đúng được đánh dấu bằng số 1, ngược lại, mệnh đề không có giá trị chân lý tức mệnh đề sai được đánh dấu bằng số 0. Thì ở trong phép phủ định của lô-gích toán, nếu phủ định của một mệnh đề “a” , thì ký hiệu của phép phủ định này là “-a”, hãy xem bảng giá trị chân lý của phép phủ định trong lô-gích toán: Bảng chân lý của phép phủ định [62] Mệnh đề khẳng định Mệnh đề phủ định a -a 1 0 0 1 Ví dụ: 1) Nếu mệnh đề: a = “Đứa bé ấy chính là Nhuận Thổ.” [109] -a = “Đứa bé ấy không phải là Nhuận Thổ.” Với trường hợp này a=1, -a = 0. 2) Nếu mệnh đề: a = “Dầu xăng là loại chất lỏng được sử dụng trong việc cứu hoả.” -a = “Dầu xăng không phải là loại chất lỏng được sử dụng trong việc cứu hoả.” Với ví dụ này, a = 0, -a =1.

Như vậy, trong lô-gích toán của sự phủ định, trong hai mệnh đề chỉ có một mệnh đề đúng, tức mệnh đề a đúng (hoặc sai) thì mệnh đề -a sai (hoặc đúng). Trong ngôn ngữ thường dùng, mối quan hệ giữa cấu trúc khẳng đỉnh của câu với cấu trúc phủ định của câu có thể gọi là mối liên hệ chủ yếu của mâu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuẫn (contradictory), tức là hai dạng câu - câu khẳng định và câu phủ định của cùng một mệnh đề không thể hoàn toàn đúng, cũng không thể hoàn toàn sai; và ngược lại, chúng có thể có mối quan hệ tương phản (contrary), tức câu khẳng định và câu phủ định của cùng một mệnh đề tuy không thể hoàn toàn đúng, nhưng chúng lại có thể hoàn toàn sai. Sự phủ định trong ngôn ngữ và sự phủ định trong lô-gích tuy đều là phạm trù quan trọng của hoạt động giao tiếp và cách phản ánh thế giới khách quan của con người cũng như việc nhận thức thế giới, nắm bắt thông tin hay bày tỏ tình cảm cá nhân v.v và tuy chúng có những điểm tương đồng như trên, nhưng chúng cũng có sự khác biệt: ngôn ngữ là công cụ giao lưu về tư tưởng hay sự suy nghĩ của con người, ngoài việc chịu ảnh hưởng và giới hạn của thế giới khách quan ra, còn chịu sự hạn chế của những điều kiện ngữ dụng như đối tượng giao tiếp, bối cảnh nhận thức của con người, ngữ cảnh và nội dung trong giao tiếp, mục đích của giao tiếp v.2 Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định trên quan điểm ngôn ngữ học Trong giao tiếp hàng ngày, giữa mỗi một cá thể con người bất kể có sự khác biệt gì về chủng tộc, màu da hay địa vị xã hội v.v, đều có nhu cầu phủ nhận và bác bỏ những quan điểm hay ý kiến mà mình không chấp nhận trong những phát ngôn do người đối thoại đưa ra. Vì vậy, với tư cách là một trong những phạm trù ngôn ngữ, tính phủ định thực sự là một thuộc tính chung của tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới.

So với các phạm trù ngôn ngữ khác, cấu trúc phủ định không thể phân tích theo hướng ngữ nghĩa dưới góc độ tự nhiên, vì phủ định không có dạng quá khứ hay dạng tương lai về mặt ngữ pháp; phủ định cũng không có thuộc tính âm - dương; về số lượng thì phủ định cũng không có số nhiều hay số ít, chẳng hạn cấu trúc phủ định trong tiếng Anh cũng vậy, nó chỉ có dạng “no”, “not” v.v chứ không có dạng thêm phụ tố “s/es” làm số nhiều vào các từ phủ định thành “noes” hay “nots” để biểu thị phủ định nhiều lần. Vì vậy, từ góc độ trên chúng ta thấy rằng, bất kể ngôn ngữ nào, để cho một câu mang nghĩa phủ định thì chúng ta chỉ có cách đặt một dấu hiệu phủ định (negative marker) vào trong câu, và cái dấu hiệu phủ định này sẽ có chức năng phủ định và bác bỏ những yếu tố trong câu mà cần phủ định, đồng thời câu này 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng sẽ có ý nghĩa phủ định.1 Dấu hiệu phủ định trong ngôn ngữ Dấu hiệu phủ định được tồn tại ở trong tất cả các ngôn ngữ, thông thường dấu hiệu phủ định trong một ngôn ngữ có tính đa dạng, tức là trong một ngôn ngữ không chỉ có một dấu hiệu phủ định, và giữa các dấu hiệu phủ định sẽ có sự khác biệt về chức năng hay cách dùng, và chúng được tập hợp thành một hệ thống phủ định nhất định, từ đó tạo ra cấu trúc phủ định trong ngôn ngữ đó. Mỗi một ngôn ngữ đều có một cách trình bày dấu hiệu phủ định riêng, chẳng hạn có thể dùng những từ mang nghĩa phủ định đảm nhiệm, như trong tiếng Anh có những từ “no”, “not”. mang nghĩa phủ định ; hay thêm phụ tố mang nghĩa phủ định ghép với những yếu tố cần phủ định, như trong tiếng Lithuania là “neszù” là tôi mặc và “ne+neszù” biểu thị “tôi không mặc” [23]; ngoài ra còn có thể dùng những kết cấu ngữ pháp để biểu thị phủ định, chẳng hạn ở tiếng Hungary thì dấu hiệu phủ định “nem” dùng trong phủ định câu trường thuật, còn dấu hiệu phủ định “ne” thì phủ định cho cấu trúc cầu khiến [60].

Cách thức sử dụng dấu hiệu phủ định có sự giống nhau hay không thường dựa vào quy thuộc của hệ ngôn ngữ, tức là những thứ tiếng này có cùng một nhóm trong hệ ngôn ngữ hay không. Tiếng Hán và tiếng Việt đều thuộc loại ngôn ngữ đơn lập và không biến hình, chúng có một số đặc điểm giống nhau về dấu hiệu phủ định (CHƯƠNG III sẽ trình bày cụ thể sự giống nhau và khác nhau về phủ định của hai ngôn ngữ). Nói chung, cả tiếng Hán và tiếng Việt đều có khá nhiều dấu hiệu phủ định, nhưng xét về mặt mức độ sử dụng thì bất kể ngôn ngữ nào cũng đều có một số ký hiệu tiêu biểu và thường dùng nhất. Ở tiếng Hán hiện đại, chúng ta thường thấy ba dấu hiệu phủ định sau hay được sử dụng: “不”, “没”và “别”.

Thông thường, ba ký hiểu phủ định này có vai trò và tác dụng riêng mặc dù chúng được đồng thời xuất hiện ở cùng một ngữ cảnh, nhưng ý nghĩa của những dấu hiệu phủ định này lại hoàn toàn khác nhau, và có lúc chỉ có một ký hiệu mang nghĩa phủ định, còn những ký hiệu còn lại thì có chức năng ý nghĩa khác. Ví dụ: (1)仰起头两面一望,只见许多古怪的人,三三两两,鬼似的在那里 徘徊;定睛再看,却也看不出什么别的奇怪。 Dịch: Ngước đầu nhìn xung quanh, lão thấy bao nhiêu người kỳ dị hết sức, cứ hai ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma. Nhưng nhìn kỹ thì 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại chẳng lấy gì làm quái lạ nữa. [118] Trong ví dụ trên “不” là dấu hiệu phủ định vì nó được sử dụng với kết cấu “看出” đối lập với “看不出” (không nhìn ra được); nhưng từ “别” ở trường hợp này chỉ có nghĩa là “cái khác” chứ không mang nghĩa phủ định.

(2)康大叔见众人都耸起耳朵听他,便格外高兴,横肉块块饱绽,越 发大声说,“这小东西不 1 要命,不 2 要就是了.” Dịch: Bác Cả Khang thấy mọi người vểnh tai nghe, lấy làm thú lắm, những thớ thịt trên mặt nổi từng cục. Bác ta cao hứng nói càng to: - Cái thằng nhãi con ấy không1 muốn sống nữa, thế thôi. [118] Trong ví dụ này “不” là dấu hiệu phủ định, nhưng ở đây “ 不 ” khác với 1 “不 ” ở chỗ ngữ cảnh và nghĩa của cả một đoạn văn. “ 不 1” là dấu hiệu phủ 2 định vì nó có sự đối lập giữa “ 要命” (muốn sống) và “ 不要命”, còn “不 2” trong “不要” có nghĩa là chết, cả câu “不要就是了” có nghĩa là “chết là được thôi”.

Dấu hiệu phủ định trong tiếng Việt được gọi là yếu tố phủ định hay phủ định tố, về thực chất thì ba tên gọi về cách diễn đạt phủ định trong ngôn ngữ là hoàn toàn giống nhau. Trong tiếng Việt, các dấu hiệu phủ định chủ yếu gồm: “không”, “chưa” và “chẳng”, ngoài ra còn có các yếu tố phủ định khác như “đếch” “cóc” v. Những dấu hiệu phủ định kể sau thuộc loại không lịch sự khi chúng ta sử dụng.2 Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định trong ngôn ngữ Bất kể trong tiếng Hán hay trong tiếng Việt, hoặc là các ngôn ngữ khác trên thế giới, sự không căn bằng giữa khẳng định và phủ định hầu như đều có một số đặc điểm giống nhau, và đây cũng là một tính chung của ngôn ngữ. Sự không căn bằng giữa khẳng định và phủ định biểu hiện bằng ba phương diện khác nhau là sự không tương ứng với cấu trúc câu, sự không tương ứng với ngữ cảnh và sự không tương ứng với mức độ ngữ nghĩa của từ.1 Không tương ứng với cấu trúc câu Xét về mặt lô-gích thì quan hệ giữa khẳng định và phủ định là tương ứng với nhau, mỗi một mệnh đề khẳng định đều có một mệnh đề phủ định tương ứng, nhưng xét về mặt ngôn ngữ thì chúng chưa chắc đã là tương ứng, và có thể có những trường hợp có một mệnh đề khẳng định, nhưng không có một mệnh đề phủ định tương ứng, ví du: (3) a.“yêu là vì thích.“yêu là vì không thích.” 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thì ở trong hai ví dụ trên, về cấu trúc ngữ pháp thì hai câu đều đúng, nhưng về mặt ý nghĩa thì câu “b.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ