Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu CQNS phục vụ quản lý môi trường huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Chương 2. CQNS huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Chương 3. Phân tích các vấn đề môi trường nảy sinh và định hướng quản lý môi trường trong các CQNS huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN NHÂN SINH PHỤC VỤ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 1.
Tổng quan các nghiên cứu về cảnh quan nhân sinh 1. Sự hình thành cảnh quan nhân sinh 1. Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Tây Âu và Bắc Mỹ Tây Âu và Bắc Mỹ là những khu vực quan tâm nhiều đến lĩnh vực nghiên cứu các CQ bị tác động bởi hoạt động kinh tế của con người. Theo dòng thời gian, việc nghiên cứu những CQ bị tác động bởi hoạt động kinh tế của con người ngày càng gần với thực tiễn hơn và có sức khái quát hơn.
Ở Mỹ, năm 1925, nhà địa lý văn hóa Mỹ Carl Sauer đã nghiên cứu những CQ tự nhiên chịu tác động bởi các hoạt động của con người. Carl Sauer xem CQ tự nhiên là đối tượng, văn hóa là nhân tố tác động để rồi hình thành nên CQ văn hóa. Theo ông, CQ văn hóa là những CQ được tạo thành sau khi có hoạt động của một nền văn hóa hay một nhóm yếu tố văn hóa lên tự nhiên. Ông còn cho rằng, tác động của con người không những thành tạo cảnh quan nhân sinh, mà còn có tác dụng tiếp tục biến đổi chúng, làm cho chúng biến đổi theo hướng nhân sinh.
Đồng thời, ông cũng cho rằng yếu tố văn hoá thay đổi theo thời gian nên CQ văn hoá có thể được trẻ hoá hoặc hình thành với cấu trúc và chức năng mới ( trích dẫn theo Nguyễn Đăng Hội, 2004) [5]. Kết quả Dân số Đô thị CQ tự nhiên CQ Nông nghiệp văn Công nghiệp hóa Thời gian. Quan niệm về cảnh quan văn hóa (Carl Sauer, 1926) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Anh, CQNS cũng được quan tâm khá sớm.Theo nhà địa lý Anh Lovejoy, ở những nơi có quá trình hình thành và phát triển lâu đời và thường xuyên chịu sự tác động của con người, thì ở đó đã hình thành nên CQNS. Quan niệm này nói lên nguồn gốc nghiên cứu CQNS, theo ông, không nên tách biệt CQ tự nhiên và CQNS [17].
Ngoài hai tác giả trên, Elservier (1999), trong nghiên cứu “Bền vững CQ nông thôn”, tác giả đã xem xét các hướng nghiên cứu quản lý bền vững CQ khu vực nông thôn. Tác giả cho rằng, sự thay đổi của CQ dẫn đến sự thay đổi trong sử dụng đất của xã hội và các tổ chức. Do vậy theo tác giả: để sử dụng bền vững đất nông nghiệp cần thiết phải sửa đổi chính sách nông nghiệp, tăng cường gìn giữ các CQ văn hóa [13]. Tiếp theo, nhiều tác giả khác cũng đi sâu nghiên và đều khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên.
Năm 2000, Farina khẳng định: CQ văn hóa phản ánh sự tương tác lâu dài giữa người dân và môi trường tự nhiên của họ; CQ văn hóa được hình thành do hoạt động của con người hàng nghìn năm, tạo ra một tập hợp độc đáo các mô hình, các loài và các quá trình xảy ra trong đó [16]. Khi nghiên cứu khu rừng xung quanh thành phố, tác giả Arntzen (2002) đã xem CQ văn hóa là kết quả của sự đan xen hội nhập giữa con người và văn hóa với tự nhiên. Nhiều tác giả trong quá trình nghiên cứu không những khẳng định được mối quan hệ giữa con người và CQ thiên nhiên mà còn tìm ra được nguyên nhân hình thành, đặc điểm riêng để phân loại và phát triển bền vững CQNS. Tác giả Mauro Agnoletti (2006), trong công trình “Bảo tồn CQ văn hóa”, ông đã nhận định “CQ văn hóa ngày nay là một nguồn tài nguyên, liên quan đến phần lớn các lĩnh vực như qui hoạch, di sản văn hóa, bảo tồn thiên nhiên, phát triển nông thôn và lâm nghiệp.
Vai trò của CQ đã thay đổi theo thời gian, không còn chỉ trong khía cạnh xã hội mà nó đã trở thành yếu tố thiết yếu nhưng dễ bị thay đổi trong hoạt động phát triển của con người”. Theo ông, công cụ để bảo tồn CQ văn hóa ở cấp độ thế giới là Công 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ước Di sản Thế giới (WHC) của UNESCO (1972). Ngoài ra có thể kể đến chính sách nông nghiệp ở Châu Âu cho việc bảo tồn và phát triển CQ thông qua kế hoạch về phát triển nông thôn [13]. Năm 2008, Vogiatzakis cùng nhiều đồng nghiệp khác ở trung tâm nông nghiệp Anh, đã nghiên cứu tổng quan về lịch sử phát triển và đặc điểm của CQ đảo thuộc Địa Trung Hải trong công trình “CQ đảo Địa Trung Hải’’.
Qua tác phẩm này các tác giả đã đề cập đến nguồn gốc thành tạo CQ văn hóa.CQ văn hóa được tạo ra từ sự ảnh hưởng của các quốc gia trong vùng, sự tương tác chặt chẽ giữa CQ thiên nhiên và văn hóa con người. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đưa ra giải pháp giúp cho việc sử dụng bền vững CQ và sinh vật thuộc đảo Địa Trung Hải, đồng thời bảo tồn sự đa dạng cả về văn hóa và tự nhiên của khu vực này [18]. Theo Atilia Peano và Claudia Casatela (2011), chỉ tiêu CQ bao gồm các nhân tố: sinh thái, lịch sử - văn hóa, nhận thức của con người, hiện trạng sử dụng đất và nhân tố kinh tế. Các nhân tố này tác động tổng hợp và tương hỗ với nhau tạo nên đặc điểm riêng của mỗi CQ [14].
Như vậy, việc nghiên cứu CQNS ở Tây Âu và Bắc Mỹ bắt đầu khá sớm và trong khoảng thời gian dài. Các nhà địa lý đều tập trung nghiên cứu những CQ bị tác động bởi hoạt động kinh tế của con người. Nhưng do nhìn nhận từ những góc độ khác nhau nên quan niệm và tên gọi của những CQ này có khác nhau. Nghiên cứu CQNS ở Liên bang Nga và Đông Âu Ở Liên bang Nga và Đông Âu, có nhiều nhà địa lý với nhiều công trình “đồ sộ” nghiên cứu CQNS.
Bắt đầu từ giữa thế kỷ XX, các nhà địa lý đã quan tâm nhiều tới mối quan hệ và các tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên trong xu hướng phát triển của địa tổng thể (trích dẫn theo Nguyễn Đăng Hội, 2004) [5]. CQNS ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XX, đồng thời với nó là các quan niệm về đối tượng nghiên cứu. Năm 1930, Gozep sử dụng thuật ngữ CQNS vào việc phân định các dạng lãnh thổ ở khu địa hình karst. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pervukhin (1938), khi tiến hành tổng kết 20 năm phát triển của CQ học Liên Xô, đã nhận thấy sự quan tâm của các nhà khoa học CQ tự nhiên tăng lên đối với việc tái tạo các CQ do hoạt động của con người.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học còn chỉ ra sự điều chỉnh cho phù hợp hơn vai trò của con người trong việc xây dựng các CQ văn hóa và CQNS. Qua đây, có thể khẳng định các nhà địa lý đã tìm thấy sự khác biệt giữa CQ văn hóa và CQNS. Tiếp theo đó, Irlinxki (1941) đưa ra quan điểm: CQNS có tính đặc thù và là kết quả rất xa sau diễn thế rừng trồng. Như vậy, trong nghiên cứu của riêng ông,quan điểm này còn bị bó hẹp.
Quan niệm này vẫn chưa mô tả rõ bản chất của CQNS là gì? [21]. Tiếp theo đó đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của Sauxkin (1946, 1947, 1951), Kotenikov (1950), Bogdanov(1951) tập trung vào lĩnh vực hoạt động nông nghiệp. Trong đó, điển hình là công trình nghiên cứu của Kotenikov. Ông là người có đóng góp đầu tiên cho việc phân loại CQNS.
Cùng với Kotenikov, Sauxkin cũng có tập chuyên khảo: “ Những lược khảo địa lý về thiên nhiên và hoạt động nông nghiệp của dân cư ở các vùng khác nhau tại Liên bang Xô Viết”. Cuốn sách này đã mô tả các mô hình địa lý khác nhau của nền nông nghiệp Liên Xô với những đặc điểm khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến những đặc điểm khác nhau đó là do sự tác động qua lại giữa hoạt động sản xuất của con người với CQ văn hóa. Nhiều nhà nghiên cứu với những công trình nghiên cứu của mình đã lần lượt làm sáng tỏ vai trò của yếu tố do con người trong việc hình thành nên các tổ hợp CQ.
Đó là các công trình nghiên cứu của Mirotxev (1951), Luxki (1957), Lidox 1960), Kharionutrev (1960), Prokaev (1965), Dobrodxkaia (1968), Nheulubin (1970). Có thể nói việc nghiên cứu CQNS đã có những bước tiến mới. Trong giai đoạn này, các tác giả ở trường Đại học Tổng hợp Matxcơva đã lần lượt nghiên cứu CQNS ở những nước khác nhau, đưa ra các mô tả bằng sơ đồ địa lý các CQNS trên phạm vi toàn cầu, cho rằng, sự hình thành và phát triển CQNS gắn chặt với hoạt động sử dụng lãnh thổ của con người.Ixatsenko (1965, 1971): CQNS là sự biến dạng khác nhau của CQ tự nhiên do hoạt động khác nhau của con người. Ixatsenko cho rằng: dựa theo mức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ tác động của con người có thể phân loại CQ văn hóa hay CQNS.
Đồng thời, ông cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều hệ thống phân loại CQNS, trong đó, có phân loại theo nội dung, nguồn gốc hình thành và sự cần thiết phải phân loại theo hệ thống các cấp bậc CQ [7]. Có thể nói sau những năm 70 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu CQNS ngày càng đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình có công trình của các tác giả Akhtysev, Berec, Bulatov, Drozdov, Kobalev và Minkov.Minkov (1973): CQNS là CQ được xây dựng bởi con người và cũng là các CQ tự nhiên mà trong đó có bất kỳ một thành phần nào bị thay đổi tận gốc do ảnh hưởng của con người. Minkov cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đều có chung quan điểm: các CQ thảo nguyên hiện đại như ngày nay được tạo thành là do ngay từ rất xa xưa con người đã tích cực khai thác các khu rừng và làm biến đổi CQ.
Chính những tác động này của con người đã tạo ra những cảnh CQNS điển hình [20]. Không chỉ các nhà địa lý, mà ngay cả các nhà địa chất, các nhà sinh vật cũng đi vào nghiên cứu những tác động của con người vào môi trường tự nhiên.