MỞ ĐẦU Cảm biến sinh học là một lĩnh vực đã đƣợc nghiên cứu từ lâu và hiện vẫn đang đƣợc quan tâm đầu tƣ nghiên cứu để phát triển do có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực quan trọng. Ví dụ, riêng cảm biến sinh học đo glucose trong máu đã có thị trƣờng khoảng 6 tỷ USD/năm. Mục đích của mọi hệ cảm biến sinh học nhằm phát hiện đƣợc một đối tƣợng sinh học cần phân tích nào đó. Quá trình cảm biến dựa trên một sự gắn kết đặc hiệu với độ chọn lọc cao hoặc phản ứng của chất cần phân tích với một phần tử nhận diện đã đƣợc biết trƣớc.
Trong các phƣơng pháp phân tích không phá hủy mẫu, phép phân tích dựa chủ yếu vào sự thay đổi tính chất vật lý của cảm biến khi có sự bắt cặp giữa chất phân tích và chất thử hoặc có sản phẩm mới tạo thành. Nhu cầu khoa học ngày nay, không những cần phát hiện một chất mà đòi hỏi phân tích tổng hợp cùng lúc nhiều chất khác nhau. Vì thế yêu cầu tích hợp một lƣợng lớn các cảm biến trong một quy trình phân tích tối ƣu là một đòi hỏi thiết thực. Trong nền công nghệ máy vi tính, một thành tựu đột phá là sự chế tạo thành công mạch tích hợp, gồm các transistor đƣợc chế tạo đồng thời và kết hợp lại với nhau thành một chíp duy nhất.
Tƣơng tự với mô hình trong công nghệ máy tính, nhiều cảm biến sinh học khác nhau dựa trên cấu trúc transistor của sợi bán dẫn Silic (Si), có khả năng phát hiện đồng thời nhiều chất phân tích khác nhau, đƣợc chế tạo đồng thời với nhiều transistor tích hợp thành một đơn chíp có thể phát hiện đồng thời nhiều thông số mong muốn. Để thực hiện quá trình cảm biến, các transistor trong một chíp cần một bộ phận chuyển đổi tín hiệu từ các quá trình phản ứng sinh hóa, các quá trình bắt cặp đặc biệt của chất phân tích thành tín hiệu điện có thể ghi nhận đƣợc. Chính vì có mối liên hệ này đòi hỏi ta phải nghiên cứu sự đáp ứng của chất bán dẫn Si, chất đang đƣợc sử dụng chủ yếu để chế tạo các linh kiện trong công nghệ máy tính, với môi trƣờng sinh hóa xung quanh nó. Tại bề mặt của chất bán dẫn, điện tích xuất hiện do thế điện của các phân tử sinh học bắt cặp trên bề mặt hay môi trƣờng lận cận gây ra.
Điện tích này ảnh hƣởng đến độ dẫn của chất bán dẫn. Sự thay đổi về độ dẫn có thể dễ dàng đo đƣợc bằng cách bố trí hợp lý các hệ đo có độ chính xác cao. Transistor có cấu tạo gồm ba điện cực: cực nguồn, cực máng và cực cổng. Bằng cách thay đổi điện thế cực cổng có thể tăng hoặc giảm điện tích chạy qua cực nguồn và cực máng.
Transistor với tính chất nhƣ thế gọi là transistor hiệu ứng trƣờng (Field Effect Transistor-FET). Dòng điện trong transistor với một hiệu điện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ix thế không đổi có thể đƣợc điều khiển bằng cách thay đổi điện thế tại cực cổng, ngoài ra nó còn có thể thay đổi bởi các điện tích của các thành phần hóa học xung quanh bề mặt chất bán dẫn (tính chất này đƣợc ứng dụng để làm cảm biến). Những yêu cầu của loại transistor làm cảm biến sinh học khác so với loại dùng trong các mạch logic của máy tính. Chất bán dẫn, làm bộ phận cảm biến của transistor, phải đƣợc lộ ra để tiếp xúc với môi trƣờng chứa chất phân tích.
Bộ phận cảm biến này phải đủ nhỏ và phải có diện tích bề mặt lớn để làm tăng độ nhạy của cảm biến. Vì độ nhạy phụ thuộc nhiều vào tỉ lệ điện tích bề mặt so với tổng điện tích. Dựa trên các yêu cầu đó, transistor hiệu ứng trƣờng dùng sợi Silic là một lựa chọn tốt nhất, vì công nghệ chế tạo mạch tích hợp làm các transistor trong công nghệ máy tính có từ lâu, nên ta có thể áp dụng công nghệ này làm transistor cảm biến. Kể từ khi transistor hiệu ứng trƣờng sợi Silic (SiNW FET) đƣợc chế tạo và ứng dụng làm cảm biến sinh học vào 2001 bởi Y Cui (http://www.edu/group/cui_group/) và Lieber (http://cmliris.edu/), SiNW FET đã thu hút nhiều nhóm và viện nghiên cứu trên thế giới tập trung đầu tƣ, nghiên cứu: Peidong Yang: http://www.edu/pdygrp/main.html; Health group- Caltech: http://www.edu/~heathgrp/Publications.html#; Viện Công Nghệ Nano MESA http://www.nl/; Viện nghiên cứu A-star Singapore: http://www.sg; Autralia Research Council: (http://www.au/); Đại học KTH Thụy Điển http://www.se; Nanosens: http://www.htm Transistor hiệu ứng trƣờng dựa trên sợi Silic kích thƣớc nano là thiết bị hứa hẹn nhiều ứng dụng tìm năng trong y dƣợc học.
Thực tế những thiết bị này cho thấy khả năng ghi nhận đƣợc nhiều chất phân tích nhƣ chuỗi DNA, dấu hiệu sinh học (biomarker), và các đối tƣợng lớn hơn nhƣ virus… Có nhiều loại cảm biến sinh học khác nhau đã đƣợc thiết kế và chế tạo trong suốt thập kỷ vừa qua, sử dụng nhiều vật liệu nano khác nhau để làm thành phần cảm biến nhƣ: Thanh dao động, chấm lƣợng tử, thanh nano, sợi nano, dây nano, nanogap và màng kích thƣớt nano. Một số thiết bị cảm biến này nhƣ loại dựa trên thanh dao động (cantilevers) và chấm lƣợng tử- quantum dot, có nhiều ƣu điểm nhƣ: siêu nhạy, thời gian đáp ứng nhanh. Nhƣng nó đòi hỏi kết hợp với những thành phần quang học để có thể chuyển các hiện tƣợng gắn kết bề mặt thành các tính hiệu có thể ghi nhân nên chí phí hoạt động rất cao. Ngƣợc lại, các cảm biến hoạt động trên nguyên tắc hiệu ứng trƣờng (FET) cho ngay tín hiệu dựa trên sự tƣơng tác bề mặt chất phân tích mà không cần kết hợp với bất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com x kỳ thành phần quang học nào khác.
Những cảm biến này dựa trên tính chất điện của vật liệu bán dẫn làm cảm biến, chẳng hạn độ dẫn điện của nó để cho tín hiệu đầu ra. Cảm biến dựa trên cấu trúc FET hứa hẹn là cảm biến có tính cách mạng trong lĩnh vực nghiên cứu phân tích sinh học bằng cách cung cấp thông tin trực tiếp, cụ thể, tức thì, siêu nhạy và có tính linh hoạt cao để ghi nhận đƣợc phân tử sinh học mong muốn. Bên cạnh đó, SiNW FET cũng đƣợc dùng kiểm soát hoạt tính các enzyme và nghiên cứu cơ chế của các phân tử thuốc tiềm năng. Phát hiện các chất phân tích với độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong một thời gian hợp lý là một lợi thế đang dần thành hiện thực của SiNW FET.
Ung thƣ vú (UTV) là một trong những loại ung thƣ phổ biến nhất trên thế giới, và là ung thƣ có tỉ lệ tử vong cao nhất ở phụ nữ1. Do chƣa có kháng nguyên đặc hiệu nên việc phát hiện ung thƣ vú tiền di căn là việc nhiều khó khăn. Trong khi đó các tế bào ung thƣ dịch chuyển trong máu (circulating tumor cells - CTC) tuy mới thu hút đƣợc sự quan tâm của giới khoa học trong thời gian gần đây, nhƣng việc định tính và định lƣợng CTC có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát hiện sớm ung thƣ, cũng nhƣ đánh giá kết quả của phƣơng pháp điều trị và tiên lƣợng thời gian sống của bệnh nhân.2 Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài chế tạo cảm biến dựa trên cấu trúc SiNW FET để ứng dụng phát hiện tế bào ung thƣ vú dịch chuyển trong máu. Đây là một đề tài có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau từ vật liệu nano và chế tạo linh kiện kích thƣớc nano, vật lý, hóa học, sinh học và y học.
Đồng thời sử dụng cảm biến SiNW FET để phát hiện CTC vẫn là lĩnh vực còn hoàn toàn mới trên thế giới nên cũng chƣa có kết quả để tham khảo, đối chiếu với kết quả chúng tôi đạt đƣợc. Do đó nhiệm vụ đặt ra trong đề tài này là: chế tạo thành công chíp SiNW FET, sau đó ứng dụng phát hiện tế bào dịch chuyển (CTC) của ung thƣ vú trong dung dịch nuôi cấy với nồng độ tế bào cao. Từ đó đánh giá tính chất, khả năng phát hiện của chíp cảm biến chế tạo đƣợc. Các kết quả ban đầu này là tiền đề quan trọng cho những bƣớc tiếp theo nhằm hoàn thiện hƣớng nghiên cứu còn rất mới và nhiều tiềm năng này, tiến tới việc sử dụng cảm biến SiNW FET trong phát hiện CTC trong mẫu máu thực sau.
Nội dung đề tài gồm hai phần chính. [1] Chế tạo chíp cảm biến dựa trên cấu trúc SiNW FET; [2] Ứng dụng ban đầu trong phát hiện tế bào CTC của ung thƣ vú trong dung dịch nuôi cấy. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỒNG QUAN VỀ CẢM BIẾN SiNW FET 1.1 ĐẠI CƢƠNG VỀ CTC TRONG UNG THƢ VÚ 1.1 Khái niệm về CTC. Năm 1869 Thomas Ashworth lần đầu tiên phát hiện ra tế bào ung thƣ dịch chuyển trong máu (circulating tumor cells-CTC).
CTC là các tế bào ung thƣ lƣu chuyển trong quá trình tuần hoàn máu, nó xuất phát ra từ các khối u sơ khởi hoặc từ các tế bào di căn ban đầu. Nó biểu hiện khi bệnh nhân bị các loại ung thƣ di căn khác nhau nhƣ ung thƣ vú, ung thƣ tiền liệt tuyến và ung thƣ đại trực tràng. CTC di chuyển trong máu, quá trình phát tán của CTC tới các cơ quan trong cơ thể đƣợc xem là mầm móng phát sinh các khối u mới cũng nhƣ nguyên nhân gây di căn3. CTC tồn tại trong máu đã đƣợc biết từ lâu nhƣng thời gian gần đây, với sự phát triển của công nghệ micro và nano, phát triển các thiết bị phân tích tƣơng thích về kích thƣớc và với độ nhạy, chúng ta mới có thể nghiên cứu về CTC hiệu quả.
Nhiều công trình chứng minh rằng nồng độ CTC trong máu có liên quan mật thiết tới tình trạng ung thƣ, các giai đoạn ung thƣ, các thông tin liên quan khác đến ung thƣ. Số lƣợng CTC đóng vai trò là các dấu hiệu sinh học quan trọng, là một trong các yếu tố tiên lƣợng chính xác quá trinh di căn… 1.2 Lịch sử nghiên cứu CTC: Năm 1869 Thomas Ashworth phát hiện ra tế bào ung thƣ dịch chuyển trong máu (circulating tumor cells-CTC) của một bệnh nhân nam bị ung thƣ di căn4. Ông khẳng định rẳng: “những tế bào giống hệt các tế bào ung thư của nó đang tồn tại trong máu có thể là tín hiệu cho biết trạng thái, nguồn gốc của nhiều khối u tồn tại trong một bệnh nhân”. Đến những năm 1990 các bác sĩ mới nhận thấy đƣợc lợi ích của CTC trong chẩn đoán nhờ những nghiên cứu chứng tỏ các tế bào ung thƣ mẹ đã xuất hiện trong tủy xƣơng trƣớc khi di căn xuất hiện.