Luận án tiến sĩ: Cải tiến tính chịu ngập của giống lúa AS996 thông qua chỉ thị phân tử

Luận án tiến sĩ nghiên cứu cải tiến tính chịu ngập của giống lúa AS996 bằng chỉ thị phân tử, hướng đến nâng cao năng suất và khả năng thích ứng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ nông nghiệp

2022

198
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu cải tiến tính chịu ngập giống lúa AS996

Nghiên cứu này tập trung vào việc cải tiến tính chịu ngập của giống lúa AS996 thông qua chỉ thị phân tử. Cây lúa là cây lương thực chủ lực tại Việt Nam, đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tuy nhiên, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây ra hiện tượng ngập úng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến năng suấtđặc tính nông học của lúa. Nghiên cứu khoa học này nhằm phát triển giống lúa có khả năng chịu ngập cao, đảm bảo an ninh lương thựcphát triển nông nghiệp bền vững.

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

Cơ chế di truyền liên quan đến tính chịu ngập của cây lúa đã được nghiên cứu rộng rãi. Locut gen Sub1 được xác định là QTL chính kiểm soát khả năng chịu ngập. Phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử kết hợp lai trở lại (MABC) đã được áp dụng để tích hợp gen chịu ngập vào giống lúa AS996. Công nghệ sinh học hiện đại đã hỗ trợ quá trình phân tích di truyềnchọn lọc các cá thể mang gen chịu ngập.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứucải thiện giống cây trồng thông qua việc tích hợp gen chịu ngập Sub1 vào giống lúa AS996. Nghiên cứu cũng hướng đến đánh giá đặc tính nông họcnăng suất của giống lúa mới trong điều kiện ngập úng. Ứng dụng công nghệ trong chọn giống nhằm tạo ra giống lúa có khả năng chịu ngập cao, phù hợp với điều kiện nông nghiệp tại Việt Nam.

II. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm lai hữu tính, lai trở lại (MABC), và sử dụng chỉ thị phân tử SSR để chọn lọc các cá thể mang gen chịu ngập Sub1. Kỹ thuật di truyền được áp dụng để xác định đa hình giữa giống lúa AS996IR64-Sub1. Phân tích di truyền được thực hiện trên 12 nhiễm sắc thể để đảm bảo tính chính xác trong quá trình chọn giống.

2.1. Lai tạo và chọn lọc

Quá trình lai tạo giữa giống lúa AS996IR64-Sub1 được thực hiện để tạo ra các thế hệ con lai. Chỉ thị phân tử SSR được sử dụng để chọn lọc các cá thể mang gen chịu ngập Sub1nền di truyền của giống AS996. Phương pháp MABC giúp tăng hiệu quả trong việc tích hợp gen chịu ngập vào giống lúa mục tiêu.

2.2. Đánh giá khả năng chịu ngập

Các dòng lúa được đánh giá về khả năng chịu ngập trong điều kiện ngập úng nhân tạo. Đặc điểm nông sinh họcnăng suất của các dòng lúa cũng được theo dõi qua các thế hệ. Khảo nghiệm sản xuất được thực hiện tại các tỉnh ĐBSCL để đánh giá hiệu quả thực tế của giống lúa mới.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy giống lúa AS996-Sub1khả năng chịu ngập vượt trội so với giống AS996 gốc. Năng suấtđặc tính nông học của giống mới được cải thiện đáng kể trong điều kiện ngập úng. Khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh ĐBSCL cho thấy giống lúa mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp.

3.1. Đánh giá năng suất

Giống lúa AS996-Sub1 đạt năng suất cao hơn so với giống AS996 trong điều kiện ngập úng. Đặc điểm nông học như chiều cao cây, số bông, và khối lượng hạt cũng được cải thiện. Khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh ĐBSCL cho thấy giống lúa mới phù hợp với điều kiện canh tác tại đây.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Giống lúa AS996-Sub1 có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, đặc biệt tại các vùng thường xuyên bị ngập úng. Nghiên cứu này góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và tăng thu nhập cho nông dân. Công nghệ sinh họcchỉ thị phân tử đã chứng minh hiệu quả trong việc cải thiện giống cây trồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu cải tiến tính chịu ngập của giống lúa as996 bằng chỉ thị phân tử

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến hàng triệu năm. Những biến đổi này diễn ra do động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người (IPCC, 2021).

Các hoạt động của con người phần lớn là đốt nhiên liệu hóa thạch, nồng độ khí nhà kính trong khí quyển tạo ra cacbon, góp phần làm tăng khí CO2 và nhiệt độ môi trường đã tăng cao hơn bất cứ thời kỳ nào trong hai triệu năm qua (IPCC, 2021). Theo quan sát của Savo et al, (2016), nhiệt độ tăng và loại hình mưa thay đổi ở 2.230 địa phương trên 137 quốc gia khác nhau. Do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu - global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại (DaMatta et al, 2010). BĐKH ngày nay không còn là vấn đề của một quốc gia hay của một khu vực mà là vấn đề toàn cầu.

BĐKH tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ trái đất có thể tăng đạt ngưỡng 1,50C so với thời kỳ tiền công nghiệp vào giữa những năm 2030 (IPCC, 2021). Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai. Dự đoán, năm 2050 sẽ có hơn một nửa dân số thế giới bị thiếu nước sinh hoạt trong một vài năm, đặc biệt khi mà mức sống ở một số vùng như Trung Á, Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á tăng lên thì tình trạng thiếu nước càng trở nên trầm trọng (Boreti and Rosa, 2019).

Dự kiến đến năm 2080, hàng triệu cư dân trái đất sẽ chịu ảnh hưởng bởi mực nước 5 biển dâng lên, nhất là vùng đảo nhỏ và các vùng châu thổ lớn ở Châu Á và Châu Phi, sẽ có khoảng 200 - 600 triệu người bị nạn đói đe dọa (Foulds et al, 2014; Hurlbert and Gupta, 2016). Hàng năm, sẽ có từ 2 - 7 triệu người sẽ là nạn nhân của tình trạng nước biển dâng và lụt lội (Rubaiyath and Jianhua, 2016). Những thách thức của BĐKH đối với sản xuất lúa gạo là vô cùng nghiêm trọng. Phần lớn lúa gạo mà thế giới sử dụng được trồng ở các vùng đất thấp hoặc vùng đồng bằng ở các quốc gia như Việt Nam, Bangladesh, Ấn Độ.

Những khu vực này có nguy cơ bị nước biển xâm nhập khi mực nước biển dâng cao, cho thấy sự cần thiết của các giống lúa có khả năng chịu đựng được cả tình trạng ngập nước lẫn độ mặn cao. Lâu nay, châu Á là nơi sản xuất và tiêu thụ gạo cao nhất trên thế giới. Ngoài ra, châu Á còn là nơi xuất khẩu gạo chủ yếu. Trong đó, Thái Lan là nước xuất khẩu gạo thứ hai toàn cầu sau Ấn Độ, lượng xuất khẩu hàng năm lên tới 9,3 triệu tấn cũng có thể giảm tới 50% sản lượng gạo do tình trạng thiếu nước và nước biển dâng (Hoang et al, 2018; Huong and Pathirana, 2013; Wassmann et al, 2004).

Mỗi năm, lũ lụt đã làm mất hàng triệu tấn lúa, chiếm khoảng 25% sản lượng lúa gạo gây thất thoát hàng tỷ đô la (USD). Xét tới những thiệt hại trực tiếp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như tính thời vụ của sản xuất lương thực của các nước khu vực này, các chuyên gia cho rằng, ngoài một số nước khu vực Đông Nam Á có thể phải đối mặt với việc khan hiếm gạo, lượng cung cầu gạo trên thị trường thế giới cũng sẽ bị thu hẹp ở mức độ nhất định, giá gạo chắc chắn sẽ tăng cao. Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra cảnh báo là đến giữa thế kỷ này năng suất các loại ngũ cốc tại Châu Á sẽ giảm 30% (Hoang et al, 2018). Mỗi năm lũ lụt đã làm mất hàng triệu tấn lúa - chiếm khoảng 25% sản lượng lúa gạo, gây thất thoát hàng tỷ USD.

Trong đó, phổ biến nhất là ở châu Á, nơi sản xuất hơn 90% lúa gạo thế giới. Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) hàng loạt hoa màu bao gồm lúa gạo bị tàn phá mang tính hủy hoại, trong đó diện tích lúa bị mất trắng ở các nước như Thái Lan khoảng 12,5%, Philippines khoảng 6%, 6 Campuchia khoảng 12%, Lào khoảng 7,5% và Việt Nam khoảng 0,4 %. Ở châu Á, lũ lụt đã gây thiệt hại lớn, ước tính thiệt hại 10 - 11 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2008 - 2018 (FAO, 2021). Điều này dẫn tới giá gạo tăng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới (Le, 2016).

Ở Châu Á, nếu nước biển dâng lên 1m, khoảng 25.000 km2 rừng đước sẽ bị ngập, 10.000 km2 đất canh tác và diện tích nuôi trồng thủy sản trở thành đầm lầy ngập mặn. Ở hạ lưu Ai Cập, 6 triệu người phải di dời và 4.500 km2 đất nông nghiệp bị ngập chìm trong nước. Ở Bangladesh, 18% diện tích đất nông nghiệp bị ngập ảnh hưởng đến 11% dân số. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), mỗi năm nông dân Ấn Độ và Bangladesh bị thiệt hại tới 4 triệu tấn thóc do lũ lụt, do nhiều giống lúa chỉ chịu ngập trong vòng chưa đầy một tuần.

Còn ở Maldives hơn 80% diện tích đất thấp hơn mực nước biển và có thể bị ngập khi nước biển dâng cao. Theo kịch bản nước biển dâng trung bình ở vùng ven biển Việt Nam có khả năng cao hơn mực nước biển trung bình toàn cầu. Khu vực giữa Biển Đông có mực nước biển dâng cao hơn so với các khu vực khác. So với khu vực phía Bắc, các tỉnh ven biển phía Nam có mực nước biển dâng cao hơn.

Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 7 - 8% ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và từ 2 - 3% ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ so với trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Lượng mưa thời kỳ từ tháng ba đến tháng năm sẽ giảm từ 4 - 7% ở Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, khoảng 10% ở Bắc Trung Bộ, lượng mưa vào giữa mùa khô ở các vùng khí hậu phía Nam có thể giảm tới 10 - 15% so với thời kỳ 1980 - 1999. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa sẽ tăng từ 10 đến 15% ở cả bốn vùng khí hậu phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ tăng trên dưới 1% (Lê Thị Phụng và cs, 2017). 7 Sự thay đổi mực nước biển trung bình toàn cầu vào năm 2300 tương đối a.

Thay đổi nhiệt độ bề mặt toàn cầu từ năm1850 - 1900 với năm1900 Sự thay đổi mực nước biển dâng cao hơn 15cm không thể bị loại trừ với lượng khí thải cao. Biển băng Bắc cực vào tháng 9 từ năm 1950 đến năm 2100 Thực tế không có băng c. Độ pH bề mặt đại dương toàn cầu Độ axit đại dương d. Mức thay đổi mực nước biển trung bình toàn cầu từ năm 1900 mực nước biển thấp, tác động cao bao gồm các quá trình mất ổn định của tảng băng, bên dưới mức SSP5- 8.5 Nguồn IPCC6 (2021) Hình 1 1.

Kịch bản BĐKH qua các giai đoạn (1950 - 2300) 8 1. Ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Theo đánh giá của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), Việt Nam là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi BĐKH. Do chúng ta có bờ biển dài hơn 3.200 km, 28 tỉnh, thành phố giáp biển nên các khu vực này đối diện với nhiều rủi ro hơn khi nước biển dâng. Cụ thể là chịu ảnh hưởng nặng nề do mực nước biển dâng, kéo theo phần lớn đất màu mỡ nhất của Việt Nam sẽ bị ngập.

Theo đó, sản lượng lúa có thể giảm đáng kể do mực nước biển dâng cao và sự thay đổi lượng mưa làm thay đổi thủy học ở các vùng đồng bằng (Wassmann et al, 2004). Các dự báo gần đây khẳng định rằng, mực nước biển của nước ta có thể tăng thêm 22 cm vào năm 2050 và khoảng 73 cm vào năm 2100. Nếu kịch bản này xảy ra, rất nhiều vùng ven biển và vùng đất trũng sẽ bị chìm trong nước, thậm chí, có khu vực sẽ bị ngập sâu vĩnh viễn. Khoảng 10 % dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp khi nước biển dâng, diện tích bị ảnh hưởng vùng ĐBSCL là 38,9 % và Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) là 16,8 % (Hens et al, 2018).

BĐKH ngoài nước biển dâng gây ngập lụt thì hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các vùng ven biển. Việc nhiễm mặn cũng đe dọa đến nguồn nước sinh hoạt. Tình trạng nhiễm mặn hiện nay đang là vấn đề nghiêm trọng đối với vùng ĐBSCL và Cà Mau (Nguyen and Savenije, 2006). Nhiễm mặn đạt tối đa vào mùa khô khi nước rút và khi nước sông cạn.

Với kịch bản biến đổi khí hậu, mực nước biển tiếp tục dâng 50 cm vào năm 2070 ở phía Nam Việt Nam, khả năng nhiễm mặn ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và cả các cây ăn quả, thậm chí là mất mùa hoàn toàn (IMHEN, 2011). Bản đồ độ mặn ở Cà Mau vào tháng 4 năm 2016 cho thấy mức độ nhiễm mặn nghiêm trọng (6 - 24‰) là kết quả của sự tích lũy từ hàng trăm năm (SIWRR, 2016) và dự báo đến năm 2050 toàn tỉnh Cà Mau sẽ bị nhiễm mặn ở mức rủi ro. Ở ĐBSH, tình trạng xâm nhập mặn cũng đã diễn ra từ khá lâu đối với vùng xa từ vùng cửa biển. Sông Trà Lý là ví dụ điển hình bị nhiễm mặn dưới điều kiện dòng chảy thấp với khoảng cách 33,7 km tính từ biển trở vào đất liền.

Tình hình càng xấu hơn khi 9 nước biển dâng và ảnh hưởng tới nguồn nước tưới tiêu và nước sinh hoạt ở khu vực ven biển (Nguyễn Văn Hoàng, 2017). Sự hiện hữu của BĐKH ở Việt Nam đã và đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết: cụ thể, trong giai đoạn từ 2016 - 2035, nhiệt độ trung bình trên toàn cầu có khuynh hướng tăng từ 0,3 - 0,7 oC và nhiệt độ ở Việt Nam cũng tăng tương đương như vậy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu cải tiến tính chịu ngập giống lúa AS996 bằng chỉ thị phân tử là một tài liệu quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung vào việc nâng cao khả năng chịu ngập của giống lúa AS996 thông qua ứng dụng công nghệ chỉ thị phân tử. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện năng suất lúa trong điều kiện ngập út mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các giống cây trồng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, nông dân và những người quan tâm đến lĩnh vực cải tiến giống cây trồng.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk, hoặc tìm hiểu thêm về các phương pháp bón phân hiệu quả qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk. Ngoài ra, Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững.