Phần mở đầu, cấu trúc luận văn gồm có ba chƣơng chính: Chƣơng 1. VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG. KHÁI LƢỢC VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC THẾ KỶ XVIII. SỰ PHÂN HÓA QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII – ĐẦU XIX.
Tổng kết phần chính văn còn có phần Kết luận. Cuối luận văn là phần Danh mục tài liệu tham khảo. PHẦN NỘI DUNG. VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG 10 VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG.
Vấn đề cái chết trong lịch sử tƣ tƣởng văn hóa phƣơng Đông nhìn từ thế ứng xử với thân xác. Cái chết đối với con ngƣời luôn là một điều bí mật, không thể trải nghiệm. Con ngƣời tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn tại của mình, cho một thực tế không thể thay đổi: phải chứng kiến hàng ngày những đứa trẻ đƣợc sinh ra, và cũng có những ngƣời chấm dứt sự sống của mình. Cũng từ đó mà nảy sinh ra những quan niệm về ý nghĩa của sự sống và sự chết.
Những tôn giáo, học thuyết, tƣ tƣởng lớn của nhân loại đều có cách luận giải của mình. Con ngƣời là một thực thể sống có thể xác và tinh thần, tình cảm; mà ngƣời xƣa gọi là Thân và Tâm. Con ngƣời hiện diện trong cuộc đời này, biểu lộ Tâm của mình không cách gì khác chính là bằng thân xác. Thân xác là hữu thể cho phép con ngƣời có mặt trên đời đích thực và hiển nhiên với tƣ cách là “con ngƣời” theo đúng nghĩa.
Bằng thân xác của mình, con ngƣời “dự định, ước muốn, hành động, và bày tỏ, biểu lộ ý nghĩ, tình cảm, thực hiện những quan hệ với thế giới sinh vật và những quan hệ giao ngộ với người khác” 1. Thân biểu hiện phần bản năng của con ngƣời, mà trong đó sống – chết là một trong những bản năng mạnh mẽ nhất. Những học thuyết, tƣ tƣởng lớn ở phƣơng Đông nhƣ Nho – Phật – Đạo đều hƣớng tới xây dựng mẫu hình con ngƣời lý tƣởng. Hòng đạt tới những mẫu hình lý tƣởng đó, thân xác với tƣ cách là phần biểu hiện bản năng của con ngƣời, trong quan niệm của các tƣ tƣởng cổ trung đại, cần phải bị kiểm 1 Nguyễn Văn Trung, Ca tụng thân xác, Nxb.
Trí thức Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hƣởng sâu sắc của những quan niệm khắc kỉ với thân xác trong những học thuyết này. Cùng với sự đối xử khắc nghiệt với thân xác, Tâm đƣợc hết thảy các học thuyết đề cao, đƣợc coi nhƣ là yếu tố quyết định cuộc sống của mỗi ngƣời, cũng quyết định thái độ của con ngƣời trƣớc cái chết. Nho giáo và tƣ tƣởng “sát thân thành nhân” – “xả thân thủ nghĩa”. Nho giáo là một trong những tƣ tƣởng, học thuyết có ảnh hƣởng mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong lịch sử trung đại khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam.
Mẫu hình lý tƣởng của các nhà Nho là bậc “thánh nhân - quân tử”. Để đạt tới mẫu hình đó, nhà nho cũng nhƣ tất cả mọi ngƣời trong xã hội “từ thiên tử tới thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc” (Đại học). “Tu thân”, “tu kỉ trị nhân” chính là rèn luyện bản thân, mà theo quan niệm của Nho gia thì phải thực hiện với những hình thức rất nghiêm khắc, trƣớc nhất chính là đòi hỏi sự khắc kỉ đối với thân xác: “tồn thiên lý, khử nhân dục” (bảo tồn thiên lí, diệt dục vọng bản năng). Để làm đƣợc điều đó, nhà nho phải rèn cách “dĩ tâm khống thân” (dùng ý chí khống chế dục vọng bản năng).
Cho nên Khổng Tử mới nói: quân tử ăn không cầu ngon, ở không cầu yên vui (Quân tử, thực vô cầu bão, cƣ vô cầu an – Luận ngữ, Học nhi). Đƣợc nhƣ vậy rồi thì: “Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúc quãng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hĩ. Bất nghĩa như phú thả quý, ư ngã như phù vân” (Ăn gạo xấu, uống nƣớc lã, co cánh tay mà gối đầu, trong cảnh đó cũng có cái vui. Làm điều bất nghĩa mà đƣợc giàu sang thì ta coi nhƣ mây nổi – Luận ngữ, Thuật nhi).
Sự khổ ải của thể xác ở đây không có ý nghĩa gì so với việc bảo vệ đạo lý, thực hành điều nhân nghĩa. Cũng xuất phát từ quan niệm đạo đức làm ngƣời của nho giáo, coi hiếu đạo là nền tảng đạo đức của một ngƣời có “nhân”, Nho giáo dạy ngƣời ta phải biết trọng thân, quý thân mình vì thân xác đó là do cha mẹ ban cho. Trong 12 sách Hiếu kinh có ghi: “ (…) thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thƣơng đó là khởi đầu của hiếu. Lập thân hành đạo, dƣơng danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu.
Xét về hiếu, khởi đầu là lo việc song thân, kế đến là việc vua tôi, sau cùng mới đến việc lập thân” – cũng cho thấy một sự thực rằng nho gia quan niệm việc gìn giữ thân thể, trân trọng thân thể của mình cũng chính là để bảo toàn đạo hiếu, giữ gìn nền tảng đạo đức của ngƣời quân tử, lập thân hành đạo chứ không xuất phát từ nguyên giá trị của thân xác. Điều này cũng giúp chúng ta hiểu đƣợc một phần quan niệm về cái chết toàn thây của nho gia. Chuyện Tăng Tử trƣớc khi chết bảo học trò xem thân thể của mình, thấy nguyên vẹn thì thanh thản vì đã tránh đƣợc tội bất hiếu, là một dẫn chứng cho thấy mối quan tâm của nhà nho trƣớc khi chết. Đó không phải là nỗi băn khoăn chỗ chết rồi sẽ đi về đâu, cuộc sống sau khi chết sẽ ra sao, mà là cuộc đời đã trải qua có tỳ vết gì không, có tội lỗi gì không, có toàn vẹn để gặp cha mẹ tổ tiên hay không?.
Lúc này ta không bắt gặp đƣợc tâm thế của một con ngƣời thông thƣờng trƣớc cái chết, vốn là nỗi sợ hãi và bi thƣơng sẽ không còn đƣợc sống trên cõi đời này nữa. Tâm thế của nhà nho trƣớc cái chết là nỗi lo lắng về việc mình có giữ đƣợc đạo nghĩa, có làm tròn đƣợc trách nhiệm của mình hay không. Chính vì thế, cái chết không toàn thây là hình phạt đau đớn và khổ nhục nhất đối với nhà nho. Các hình phạt thời trung đại đều nhằm vào thân thể kẻ có tội, đƣợc giới cầm quyền sử dụng nhƣ cách thức chế ngự và củng cố lòng trung thành của kẻ dƣới.
Tàn khốc nhất là những hình thức tra tấn đến chết làm thể xác không còn nguyên vẹn nhƣ tùng xẻo, ngũ mã phanh thây, chặt đầu… trở thành nỗi răn đe đầy ám ảnh đối với nhà nho. Quan niệm trọng tâm nhất trong học thuyết Nho giáo chính là chữ Nhân. Đối với nhà nho, đạo Nhân phải đƣợc đặt lên trên chuyện giàu nghèo, đặt lên trên những cám dỗ của tình ái, và đặc biệt, phải đƣợc đặt lên trên 13 chuyện sống chết của bản thân. Ý nghĩa căn bản nhất của chữ Nhân là hy sinh cái tôi nhỏ để hoàn thiện cái tôi lớn hơn, để đạt tới hình mẫu con ngƣời mẫu mực của Nho giáo: “là con ngƣời vô kỷ, vị tha, lúc cần thiết có thể chịu đựng và phải chịu đựng đƣợc mọi sự ma chiết của hoàn cảnh, đến mức cao nhất, hoặc do tình huống đòi hỏi, phải sát thân thành nhân, xả thân thủ nghĩa”2.
Khổng Tử nhấn mạnh: “Chí sĩ nhân nhân, hữu sát thân dĩ thành nhân, vô cầu sinh dĩ hại thân” (Luận ngữ, Vệ linh công). Nghĩa là: bậc chí sĩ ngƣời có đạo Nhân là những ngƣời không ham sống mà sợ chết, khi cần thiết, phải tự mình chết để bảo toàn đạo Nhân. Kế thừa những học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử tiếp tục nói rõ thêm về “chết vì đạo đức nhân nghĩa”, đó là “xả thân thủ nghĩa” (xả thân để bảo vệ nghĩa lớn). Mạnh Tử nói: “Sinh diệc ngã sở cầu dã, nghĩa diệc ngã sở cầu dã, nhị giả bất khả đắc kiêm, xả thân nhi cử nghĩa giả dã”, nghĩa là: sinh mệnh là cái bản thân ta muốn gìn giữ; chính nghĩa cũng là điều bản thân ta muốn gìn giữ, nhƣng trong trƣờng hợp sinh mệnh và chính nghĩa không thể đồng thời đƣợc bảo toàn, phải hy sinh sinh mệnh của mình để bảo toàn chính nghĩa.
Quan niệm này của Nho gia có thể khái quát trong câu “Sát thân thành nhân” – dù tính mệnh là quý nhất, nhƣng vì đại nghĩa mà hy sinh nó thì mới là nhân vậy. Nho gia có tƣ tƣởng “trọng thân”, coi thân là gốc (thân vi bản) nhƣng lại mang nghĩa là coi trọng tu thân, đề cao vai trò của tâm - ý chí chứ không có ý đề cao thân xác bản năng của con ngƣời. Đúng nhƣ NNC Trần Nho Thìn đã nhận định: “Khắc kỉ và sẵn sàng chết khi cần thiết để bảo vệ đạo Nhân, đặt các giá trị luân lí đạo đức cao hơn giá trị của thân xác là mô hình lí tƣởng của nhà nho” 3. 2 Trần Ngọc Vƣơng, Nhà nho tài tử và Văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1995, tr.
3 Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 14 Cái chết vì nhân nghĩa đƣợc các nhà Nho đề cao, những tấm gƣơng xả thân vì nghĩa lớn theo quan niệm của Nho giáo đƣợc lƣu truyền trong sử sách. Chết vì đạo nghĩa đã trở thành những câu cách ngôn trong sự nghiệp lập thân của các nhà nho, cũng nhƣ là lời cảnh tỉnh với ngƣời khác khi đối diện với cái chết. Coi “sát thân thành nhân”, “xả thân thủ nghĩa” là điều tâm niệm, Nho gia đánh giá nhân cách ngƣời quân tử nhận trọng trách trong lúc nguy nan cũng giống nhân cách ngƣời quân tử tranh đấu cho đến lúc chết, liều chết mà can gián.
Nhân cách ngƣời quân tử có giá trị hơn giá trị của sinh mệnh nhiều lần. Có vô số nhân sĩ chết vì điều nhân và xả thân vì đại nghĩa, đƣợc nhắc tới nhƣ những tấm gƣơng sáng cho muôn đời. Nhƣ ba nhân sĩ thời Ân: Bỉ Cán bị xử tội chết vì dám can gián, Vi Tử dở điên dở dại trôi giạt nơi nhân gian, Cơ Tử bị giam cầm rồi trở thành nô lệ - đều đƣợc Khổng Tử khen là bậc nhân (Xem Luận ngữ, Vi tử). Đối với nho gia, nỗi đau đớn của thể xác không có gì đáng kể, cái chết của thân nhục thể không có gì đáng tiếc nếu đó là sự hy sinh vì đạo nghĩa, khi đó thân danh tiết mới để lại tiếng thơm cho muôn đời sau.
Lập công danh, bảo tồn đạo lý chính nghĩa là mục đích của đời ngƣời.