Chương 1: Cơ sở lí luận. - Chương 2: Đặc điểm các yếu tố cận lời trong trong hội thoại qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. - Chương 3: Bước đầu tìm hiểu giá trị của các yếu tố cận lời trong hội thoại và trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Nghiên cứu các yếu tố cận lời từ bình diện ngữ dụng học, luận văn sẽ áp dụng một số vấn đề lí thuyết có liên quan sau: 1.
Các nhân tố giao tiếp Về các nhân tố giao tiếp, chúng tôi sẽ trình bày theo hệ thống lý thuyết của Đỗ Hữu Châu. Tác giả của Ngôn ngữ học đại cương cho rằng, quá trình giao tiếp (bằng ngôn ngữ) gồm 3 nhân tố cơ bản: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn. Ngữ cảnh “Ngữ cảnh giao tiếp là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn. Nó là một tổng thể của những hợp phần như: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn (hoàn cảnh giao tiếp)”.
Nhân vật giao tiếp “Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những tương tác bằng ngôn ngữ”. [12] Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, nó có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc thoại. Do đó nó chính là linh hồn của của cuộc thoại.
Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân. Vai giao tiếp: Để tiến hành giao tiếp các thành viên tham gia giao tiếp phải xác lập vị thế giao tiếp của mình, nghĩa là phải nhận thức đầy đủ về đối tượng tham gia giao tiếp (về tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, mục đích giao tiếp, vốn sống…) và về chính bản thân mình. Nếu giao tiếp mới là sự gặp gỡ tiếp xúc lần đầu thì các thành viên tham gia giao tiếp phải có bước thăm dò đối tượng thông qua cách giao tiếp, trình độ văn hoá ứng xử của mình để có thể thu thập thông tin về đối phương. “Vai giao tiếp chính là cương vị xã hội 12 của một cá nhân nào đó trong một hệ thống các quan hệ xã hội.
Vai được hình thành trong quá trình xã hội hoá cá nhân”. Khi giao tiếp trực tiếp, hai vai này thường luân chuyển, đổi vai cho nhau. Việc đổi vai không chỉ thúc đấy giao tiếp phát triển mà đôi khi còn kết thúc giao tiếp: “Trong quá trình giao tiếp, người nhận có thể đóng vai trò tích cực hay tiêu cực. Người nhận tích cực khi anh ta luôn thay đổi vai trò người nhận - người phát, khi giao tiếp diễn ra ở hai chiều.
Người nhận tiêu cực khi anh ta luôn giữ vai trò người nhận trong suốt quá trình giao tiếp, nghĩa là khi giao tiếp diễn ra một chiều”. [12] Quan hệ liên cá nhân: Theo GS. Đỗ Hữu Châu thì quan hệ vai giao tiếp giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong quan hệ xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật với nhau.
Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội. Cái gọi là địa vị xã hội có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp… mà có. Cũng tùy theo quan niệm văn hóa của từng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử mà địa vị xã hội khác nhau, thí dụ, trước 1945 cư dân thành thị thường được xem là có địa vị xã hội cao hơn cư dân ở nông thôn, và người hàng văn được xem là có địa vị xã hội cao hơn người hàng võ (trọng văn khinh võ). Khi các giá trị trên xuất hiện đồng thời thì vấn đề đặt ra là nhân tố nào được xem là ưu tiên.
Thí dụ, ở xã hội Việt Nam, cho đến nay, tuổi tác (người cao tuổi) có lẽ lấn át các 13 giá trị khác. Nói năng mà “hỗn” với người già cả thì dù địa vị xã hội có cao đến đâu cũng bị xem là “thiếu văn hóa”. Theo trục quyền uy thì những người giao tiếp ở mức độ cao - thấp hoặc bình đẳng với nhau và quan hệ vị thế là phi đối xứng, có nghĩa là một khi đã được xác định đúng thì sẽ được giữ nguyên trong quá trình giao tiếp không thể qua thương lượng mà thay đổi vị thế. Trên trục khoảng cách các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà cũng có thể xa cách nhau.
Trục này có hai cực: thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau. Nên chú ý mức độ thân cận có thể tỉ lệ thuận với mức độ hiểu biết về nhau của những người giao tiếp nhưng không nhất thiết là đã hiểu nhau là đã thân nhau. Có khi những kẻ tư thù với nhau lại hiểu nhau rất kỹ. Thân cận là trục đối xứng, có nghĩa là trong quá trình giao tiếp nếu Sp1 dịch lại gần Sp2 thì Sp2 cũng dịch lại gần Sp1 (tất nhiên trừ trường hợp có người không cộng tác, chối từ sự biến đổi đó) và ngược lại.
Qua thương lượng có thể thay đổi khoảng cách.[13] Giữa hai trục quyền uy và thân cận có sự tương ứng. Khoảng cách địa vị càng lớn thì người ta càng khó gần gũi nhau. Tuy nhiên không phải bao giờ hai trục này cũng đi đôi với nhau. Không ít vị thủ trưởng “cánh hẩu” với nhân viên bậc thấp nhất trong cơ quan của mình.[13] Vị thế xã hội và mức độ thân cận cũng là những yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà những người tham gia giao tiếp xây dựng về nhau.
Khi trò chuyện với người chưa từng quen biết, thông thường chúng ta phải thăm dò để xác định vị thế xã hội của người đó. Trừ tuổi tác, để xác định đúng vị thế của người giao tiếp, chúng ta phải dựa vào những chỉ dẫn từ bên ngoài (như cách ăn mặc: Hơn nhau tấm áo manh quần…), điệu bộ, cử chỉ, cách nói năng cho đến bên trong như những hiểu biết, hứng thú… mà người giao tiếp với mình để lộ ra trong quá trình giao tiếp. Giới thiệu trong buổi sơ giao là cần thiết, giúp cho những người mới tiếp xúc với nhau rút ngắn được quá trình thăm dò, làm cho cuộc hội thoại diễn ra thuận lợi hơn.[13] 14 Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn. Bên cạnh khái niệm vị thế xã hội, còn có khái niệm vị thế giao tiếp.
Vị thế giao tiếp có thể mạnh hoặc yếu. Người nào trong một cuộc hội thoại nắm quyền chủ động nêu đề tài diễn ngôn, lái cuộc hội thoại theo hướng của mình, điều hành việc nói năng của những người cùng giao tiếp với mình… thì người đó ở vị thế giao tiếp mạnh. Vị thế giao tiếp có thể thương lượng và chuyển giao từ người này sang người kia. [13] Vị thế giao tiếp còn được thể hiện ngay chính trong cái cách mà anh ta nói.
Tức là trong những yếu tố đi cùng với lời nói - ngôn ngữ, tức các yếu tố cận ngôn. Những người có vị thế giao tiếp mạnh thường có cách nói “lấn át”. Biểu hiện cụ thể của nó là nói to, nói dõng dạc, nói hùng hồn…[13] 1. Hoàn cảnh giao tiếp (Hiện thực ngoài diễn ngôn): GS.
Đỗ Hữu Châu cho rằng: Trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hoá,…được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn. Cụ thể, hiện thực ngoài diễn ngôn bao gồm: - Hoàn cảnh giao tiếp rộng: Bao gồm tổng thể các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế văn hoá, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử với các thiết chế, các công trình, các tổ chức, … tương ứng tạo nên cái gọi là môi trường xã hội - văn hoá - địa lí cho các cuộc giao tiếp. - Hoàn cảnh giao tiếp hẹp ( thoại trường) là không gian, thời gian cụ thể mà cuộc giao tiếp diễn ra, ví dụ nhà thờ - ngày chủ nhật, nhà thờ - các ngày thường; lớp học - giờ học, lớp học - giờ ra chơi, chợ - ngày phiên, chợ - một thời điểm nào nó trong ngày… là những thoại trường của cuộc giao tiếp. Như thế, hoàn cảnh giao tiếp là một trong những yếu tố chủ đạo chi phối hoạt động giao tiếp của con người.
Đó là thế giới thực tại mà chúng ta đang sống với tất cả những nhân tố xã hội - ngôn ngữ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như: hiểu biết về thế giới xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử., phong tục, tập quán, trình độ học vấn, kinh 15 nghiệm xã hội, thói quen sử dụng ngôn ngữ, phạm vi giao tiếp, đề tài chủ đề hay hình thức giao tiếp. Trong hoàn cảnh giao tiếp người ta đặc biệt chú ý đến sự tồn tại của tính quy thức và phi quy thức trong giao tiếp thông qua sự diễn đạt ngôn ngữ của các vai giao tiếp. - Hiện thực - đề tài - diễn ngôn: Đây là những nội dung được nói đến trong cuộc giao tiếp bao gồm hiện thực đề tài ngoài diễn ngôn và hiện thực đề tài trong diễn ngôn. - Ngữ huống: Tình huống giao tiếp cụ thể.
Có thể xem ngữ huống ở một thời điểm của cuộc giao tiếp, hiện thực hoá các nhân tố tạo nên ngữ cảnh cũng như tạo nên cuộc giao tiếp. Bởi ngữ huống liên tục khác nhau cho nên ngữ cảnh là động, không phải là tĩnh, không phải nhất thành bất biến. Cho nên người giao tiếp - các đối ngôn cũng phải luôn luôn biến động. Ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp bằng ngôn ngữ, ngôn ngữ chắc chắn sẽ tác động đến hình thức và nội dung của cuộc giao tiếp [13; Tr 122].
Ngôn ngữ thể hiện bằng lời nói và chữ viết. Ngữ dụng học chủ yếu quan tâm đến lời nói. Ngôn ngữ tồn tại thực trong các biến thể của nó. Đó là các biến thể chuẩn mực hoá, phương ngữ (phương ngữ địa lí, phương ngữ xã hội), ngữ vực, phong cách chức năng, loại thể và ngôn ngữ cá nhân.
Những nhân tố biến thể và nhân tố loại thể nhất định để lại những dấu vết đối giao tiếp. Kênh thính giác và kênh thị giác của ngôn ngữ “Đường kênh cơ bản của ngôn ngữ là kênh thính giác. Từ khi có chữ viết thì ngôn ngữ có thêm đường kênh thị giác. Ngôn ngữ thính giác, ngôn ngữ nói, là ngôn ngữ nguyên cấp.
Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ thứ phát. Giữa hai thứ ngôn ngữ này có những khác biệt quan trọng” [13].