mở đầu, giới thiệu lý do chọn đề tài, ác định vấn đề, mục tiêu, c u hỏi, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương 4: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và ph n tích dữ liệu nghiên cứu, kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Trình bày kết luận, khuyến nghị chính sách, những hạn chế của luận văn. Luận văn thạc sĩ 8 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Tiến Khai Thực hiện nghiên cứu: Phạm Trần Phú CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về giáo dục. Kế tiếp là phân tích và nhận xét các kết quả nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó sẽ đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu của luận văn.
Lý thuyết về giáo dục 2. Các khái niệm liên quan về giáo dục và giáo dục trung học cơ sở Khái niệm Giáo dục Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), đ y là một khái niệm cơ bản nhất của khoa học giáo dục. Đó là khái niệm “gốc”. Từ khái niệm này, nếu ph n nhỏ nội hàm và ngoại hàm sẽ hình thành một loạt các khái niệm liên quan như: giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục ã hội, giáo dục cộng đồng, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp,… Gillis (199 ), định nghĩa giáo dục là tất cả các hình thức học hỏi của con người, về cơ bản có ba dạng giáo dục: Giáo dục chính quy liên quan đến quá trình học tập tại các trường học, viện giáo dục không chính quy liên quan đến các chương trình di n ra bên ngoài nhà trường với khoảng thời gian ngắn và cuối cùng là hình thức học di n ra ở bất cứ nơi đ u: Ở nhà, công sở và ở địa phương.
(19 3), giáo dục cần được hiểu theo 3 khía cạnh. Thứ nhất, giáo dục có ý nghĩa tiêu dùng ở hiện tại, là thứ hàng hóa tạo sự phấn khích cho người tiêu dùng (từ việc biết thêm kiến thức). Thứ hai, giáo dục mang ý nghĩa tiêu dùng ở tương lai nó giúp người học có khả năng tiêu thụ thêm nhiều hàng hóa khác trong đời sống. Thứ ba, giáo dục mang ý nghĩa đầu tư.
Điều này có nghĩa là vốn con người từ quá trình giáo dục giống như vốn vật lực (physical capital), được sử dụng cho đến khi năng suất biên của nó bằng với chi phí biên sử dụng nó. Đ y là điều làm cho các nhà kinh tế học em giáo dục là đầu tư vốn con người. Nguy n Văn Hiển (2009), giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống nhằm tạo ra sức mạnh có tính đa dạng về thể chất và tinh thần của con người, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - ã hội. Giáo dục c n là quá trình hình thành cho con người những tri thức khoa học về thế giới quan, lý tưởng, đạo đức, thái độ, thẩm mỹ.
Trên cơ sở hình thành nh n sinh quan, phát triển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ thể. Bên cạnh đó, giáo dục có sứ mệnh cao cả rèn luyện Luận văn thạc sĩ 9 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Tiến Khai Thực hiện nghiên cứu: Phạm Trần Phú nh n cách cho từng cá nh n cụ thể, làm cho con người trở thành những chủ thể có kỹ năng và bản lĩnh khi đối diện với những vấn đề đặt ra của thế giới và của bản th n. Họ sẽ hiện diện trong môi trường sống không chỉ bằng kiến thức, trí nhớ mà c n sự chọn lựa về đạo đức và hệ thống chính trị. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Giáo dục là tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”.
Luận văn này tập trung ph n tích giáo dục dưới hình thức chính quy tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng học sinh trung học cơ sở, làm cho đối tượng học sinh trung học cơ sở dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu ngành giáo dục đã đề ra. Định nghĩa giáo dục trung học cơ sở: Theo Luật Giáo dục (2005), giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là 11 tuổi đến 14 tuổi. Khái niệm bỏ học ở cấp trung học cơ sở: Cách hiểu thông thường của ngành giáo dục, bỏ học ở cấp trung học cơ sở là tình trạng trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi (hoặc từ 11 đến 17 tuổi đối với các trường hợp lớn hơn 3 tuổi so với quy định) đang học cấp trung học cơ sở và đã bỏ học do hoàn cảnh, điều kiện gia đình môi trường ã hội tác động; do yếu tố cá nh n hoặc các yếu tố khác tác động nên bỏ học giữa chừng, tại thời điểm khảo sát không theo học bất cứ lớp học nào tại các trường công lập, lớp học bổ túc văn hóa, các lớp óa mù chữ, lớp tình thương, … thuộc cấp trung học cơ sở.
Các lý thuyết có liên quan (1) Lý thuyết về chi phí và lợi ích trong đầu tư giáo dục Lý thuyết về vốn con người được Gary Becker phát triển năm 19 4. Lý thuyết này đưa ra những nguyên tắc về chi phí và lợi ích trong đầu tư giáo dục. Theo Gary Becker, mọi cá nh n đều đang sở hữu và quản lý vốn con người đánh giá cao cơ hội đầu tư nguồn vốn đó bằng cách so sánh các chi phí đầu tư với lợi nhuận hiện tại hóa (có nghĩa là có tính đến giá trị của đồng tiền đầu tư theo dòng thời gian), để rồi có thể thu hồi lại vốn sau này. Như vậy, đối với một học sinh, chi phí bằng tiền cho giáo dục (học phí) bổ sung vào chi phí cơ hội của việc theo đuổi học tập, được đo lường bằng những khoản thu nhập không nhận được trong khoản thời gian này.
Luận văn thạc sĩ 10 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Tiến Khai Thực hiện nghiên cứu: Phạm Trần Phú Việc chính phủ chi trả một phần chi phí trực tiếp, có ảnh hưởng đối với những đối tượng bị thiệt th i, vấn đề mi n phí tiền học và các khoản trợ cấp khác sẽ tạo điều kiện cho trẻ nhỏ theo đuổi con đường học tập. Những chi phí trực tiếp như: học phí, tài liệu, sách vở… và những chi phí cơ hội mất đi trong quá trình đi học. Những lợi ích bao gồm những thu nhập sẽ được tăng lên sau khi đi học. Như vậy, gia đình hoặc bản th n người đi học phải c n nhắc lợi ích và chi phí này trước khi quyết định đi học hoặc đầu tư cho con cái khi đi học.
Lý thuyết và nghiên cứu đã đưa ra nhiều điểm quan trọng: tỷ lệ thu nhập cho giáo dục thì cao hơn tỷ lệ thu nhập từ đầu tư các lĩnh vực khác quyết định của một người sẽ đi học hay không tùy thuộc vào thu nhập kỳ vọng của học trong tương lai những người quyết định đầu tư đi học có khả năng và năng lực nhiều hơn những người ít đầu tư cho việc học (Nguy n Văn Út, 2013). Tuổi trẻ của trẻ em cũng là nh n tố ảnh hưởng đến việc quyết định nhập học bởi vì chi phí cơ hội sẽ rất cao và do đó giá trị đưa về hiện tại của thu nhập tương lai sẽ thấp. Có những trẻ em phải đi làm, tham gia vào thị trường lao động để kiếm tiền bù vào khoản thu nhập thấp của bố mẹ. Kết quả là trẻ em kể trên sẽ không thể đến trường.
Giới hạn của mô hình trên chính là các giả định trong đó ngầm giả định chất lượng trường học là như nhau (Phạm Hồng Thắm, 2011). Lý thuyết trên nói rằng trong một thị trường vốn hoàn hảo và dự báo rõ, các cá nh n sẽ tự chọn cho mình một chiều dài học tập tối ưu sao cho tối đa hóa thu nhập thuần của quãng đời sau. Theo kinh tế học hiện đại thì việc tính toán chi phí mong đợi cho giáo dục do nhà nước hay các hộ gia đình chi trả đều được em là vốn đầu tư cho việc tạo nguồn nh n lực với ý nghĩa liệu rằng việc đầu tư thêm một năm học có làm gia tăng thêm năng suất lao động và nguồn thu nhập trong tương lai cho người tiếp nhận giáo dục hay nói cách khác là tỷ lệ lợi ích thu hồi từ việc đầu tư cao hay không. Tuy nhiên có sự ph n biệt rõ giữa lợi ích thu hồi cá nh n và lợi ích thu hồi ã hội.
Đối với hộ gia đình hay cá nh n, lợi ích thu hồi của giáo dục chính là thu nhập cá nh n thuần (sau thuế) và chi phí cá nh n là chi phí tiền mặt và chi phí cơ hội của việc đi học. Việc đầu tư cho giáo dục sẽ được quyết định dựa trên sự định lượng giữa giá trị thu nhập tương lai cho mỗi mức giáo dục tăng thêm được đưa về giá trị thực tại và khoản giá trị chi phí đã được chuyển về giá trị hiện tại với cùng một mức tỷ suất chiết Luận văn thạc sĩ 11 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Tiến Khai Thực hiện nghiên cứu: Phạm Trần Phú khấu (r). Thông thường, để ph n tích quyết định giáo dục công thức tính tỷ suất lợi ích thu hồi nội bộ được dùng vì những tiện ích của nó. Việc quyết định đầu tư dựa trên sự so sánh tỷ suất lợi ích thu hồi nội bộ của giáo dục với các dự án khác, nếu cao hơn tức có lợi nhuận thì sẽ được đầu tư (Phạm Hồng Thắm, 2011).
(3) Lý thuyết bỏ học của Morrow (1987), đó là những cá nh n có những hành vi không mong muốn mà nhà trường bắt buộc nghỉ học; những học sinh không muốn tiếp tục quan hệ với nhà trường và giáo viên những học sinh không có khả năng học; những học sinh có khả năng học nhưng vi phạm kỷ luật và những học sinh bỏ học nhưng quay lại học ngay trong năm. Nội dung của lý thuyết có thể áp dụng vào nghiên cứu đề tài ở nhiều khía cạnh khác nhau.