Lời mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc cấu trúc gồm bốn phần sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về nghèo. 5 Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự giảm nghèo ở huyện Krông Nô. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách 7 - Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 “Tấn công nghèo đói” [28], là báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia của Chính phủ Việt Nam và Nhà tài trợ.
Trong báo cáo này giảm nghèo đƣợc xem xét trên khuôn khổ gồm có 3 vấn đề: Một là nỗ lực giảm nghèo phải mở ra những cơ hội tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động nhƣ là cách thức để từ đó góp phần tăng thu nhập và giúp ngƣời nghèo vƣợt ra khỏi nghèo đói thông qua đa dạng hoá các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo cơ hội tiếp cận các nguồn vốn chính thức và tạo cơ hội hay cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản nhƣ cung cấp nƣớc sạch, điện, vệ sinh, y tế hay phòng học. Hai là nỗ lực giảm nghèo phải đi cùng các biện pháp đảm bảo lợi ích của tăng trƣởng và khả năng tiếp cận các dịch vụ một cách khách quan và công bằng: công bằng trong phân phối thu nhập, công bằng trong tiếp cận thông tin và đảm bảo quyền phụ nữ. Ba là cần đặc biệt chú ý giảm bớt nguy cơ dễ bị tổn thƣơng của ngƣời nghèo thông qua sự trợ giúp của Hội chữ thập đỏ, Uỷ ban phòng chống lụt bão, tham gia Bảo hiểm y tế, chƣơng trình tiết kiệm của cộng đồng, xây dựng mạng lƣới An sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo. Một số nghiên cứu về thực trạng đói nghèo và một số giải pháp XĐGN đối với dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên đã nêu lên các nguyên nhân nghèo đói của đồng bào DTTS gồm các nguyên nhân: Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, đất đai xấu (khách quan); Kiến thức, thiếu vốn sản xuất, đông con, 6 thiếu lao động (bản thân ngƣời nghèo) và không đồng bộ về các chính sách đầu tƣ, khuyến nông – lâm – ngƣ, về tín dụng, giáo dục đào tạo, y tế, đất đai (chính sách).
[3] Báo cáo đánh giá nghèo của Việt Nam trong năm 2012, cho rằng dù tiến bộ đáng kể nhƣng nhiệm vụ giảm nghèo vẫn chƣa phải hoàn thành với những lý do sau: + Những hộ nghèo trƣớc kia vẫn dễ bị tái nghèo do: Các cú sốc về thời tiết, sức khỏe và rủi ro trƣớc các cú sốc về thu nhập khác vẫn phổ biến và ở một vài nơi thậm chí còn gia tăng. + Tốc độ phát triển nhanh chóng của Việt Nam đã làm nảy sinh những thách thức mới nhƣ: Những lao động ở độ tuổi 40, 50 chƣa đƣa ra những quyết định về học hành và nâng cao kỹ năng làm việc trong một nền kinh tế khác hoàn toàn, dựa vào một hệ thống khuyến khích hoàn toàn khác. Nhiều ngƣời lại không có kỹ năng hay trình độ để kiếm việc trong nền kinh tế đang đƣợc hiện đại hóa nhanh chóng. Thậm chí những lao động trẻ sau khi học xong thƣờng không đƣợc đào tạo đầy đủ để làm việc trong môi trƣờng đòi hỏi nhiều kỹ năng làm việc.
+ Hiện nay bất bình đẳng đã xuất hiện trở lại, nhiều ngƣời dân Việt Nam tỏ ra lo ngại về tình trạng bất bình đẳng có xu hƣớng gia tăng. + Phát triển con ngƣời không đồng đều cũng gây ra sự bất bình đẳng trong thu nhập. Mặc dù Việt Nam đã làm tốt việc đảm bảo sự bao phủ của các dịch vụ cơ bản song chất lƣợng không đồng nhất và có sự khác biệt lớn có thể nhận thấy rõ giữa các hộ và các vùng nghèo và khá giả. Với động thái hƣớng tới “xã hội hóa” các dịch vụ y tế và giáo dục, việc tiếp cận dịch vụ trở nên gắn kết chặt chẽ hơn với thu nhập và gánh nặng chi trả của ngƣời dân cho chi phí y tế và giáo dục đang gia tăng [10].
7 Hai tổ chức phi chính phủ Oxfam và ActionAid tại Việt Nam đã công bố báo cáo nghiên cứu về giảm nghèo đối với DTTS “Mô hình giảm nghèo tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số điển hình ở Việt Nam”. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu những yếu tố dẫn đến những hộ gia đình và cộng đồng DTTS điển hình giảm nghèo có kết quả, cải thiện đời sống tốt hơn các hộ gia đình và cộng đồng khác trong cùng bối cảnh. Mỗi “mô hình giảm nghèo” đƣợc khảo sát trong nghiên cứu này đều dựa trên các yếu tố: tiên phong, lan tỏa, gắn kết cộng đồng, tận dụng lợi thế, thích ứng với điều kiện mới, đa dạng hóa sinh kế, phòng chống rủi ro và quản trị địa phƣơng [29]. D n phân tích hiện trạng nghèo đói ở đồng bằng sông Cửu Long, cho thấy ngƣời dân khu vực này dễ rơi vào tình trạng nghèo đói nếu không có đất hoặc có ít đất canh tác, sống trong vùng nông thôn, lệ thuộc vào công việc không ổn định, hoặc thuộc nhóm dân tộc Khmer hoặc nữ.
Qua đó, các chƣơng trình xóa đói giảm nghèo cần đƣợc thiết kế riêng cho phù hợp với tình hình đặc trƣng của vùng [1]. Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến nghèo trên địa bàn Quận 9, TPHCM, đã phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tình trạng nghèo của hộ theo giới tính, quy mô hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng việc làm, khả năng tiếp cận tín dụng. Trong các nhóm yếu tố này, có 3 nguyên nhân chính gây nên tình trạng nghèo của hộ là: Thiếu lao động hoặc gia đình có ngƣời bệnh nan y, đông ngƣời ăn theo, trình độ học vấn thấp, không có tay nghề lao động [24]. Ở khu vực Nam Trung Bộ, đã có đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến nghèo của hộ gia đình ngƣ dân nghề khai thác thủy hải sản.
Kết quả xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến nghèo của hộ ngƣ dân khu vực Nam Trung Bộ bao gồm: Nhóm các yếu tố về đặc điểm của hộ gia đình và phân bố nguồn lực của Chính phủ; nhóm các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên nhƣ: rủi ro thiên tai, thời tiết, khí hậu [12]. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHÈO 1. KHÁI NIỆM NGHÈO ĐÓI ểu về nghèo đói nhƣng hầu hết các khái niệm nghèo đói đều đề cập đến mức sống vật của ngƣời dân. Tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp, khái niệm về nghèo đói đƣợc mở rộng liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ nhƣ giáo dục, văn hóa, y tế - không chỉ liên quan đến kinh tế thuần túy.
Nghèo đói đôi khi còn đƣợc xem xét về chế kinh tế thị trƣờng không hiệu quả hay thể chế nhà nƣớc thiếu trách nhiệm giải trình và không vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch. Mở rộng hơn nữa, nghèo đói còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Một số ợc định nghĩa cụ thể nhƣ sau: Ngƣời nghèo đƣợc các nhà kinh tế học định nghĩa: “Ngƣời nghèo là ngƣời có mức thu nhập hay mức sống dƣới một ngƣỡng tài chính nhất định” [16]. Nhƣ vậy, nghèo đƣợc định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân.
Với định nghĩa này, ngƣời nghèo đơn giản là ngƣời có mức thu nhập thấp và còn thiếu thốn về kinh tế. Định nghĩa về nghèo theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 nhƣ sau:“Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện: Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng…”. Mặc dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận về vấn đề nghèo, tuy nhiên tập trung lại các khái niệm này đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của ngƣời nghèo là: 1)Người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. 2) Người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người 3) Người nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Nghèo tuyệt đối (absolute poverty) nhằm thể hiện một mức thu nhập tối thiểu và cần thiết của mỗi ngƣời để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản nhƣ nhà ở, quần áo, lƣơng thực, là thƣớc đo những ngƣời dƣới một ngƣỡng nghèo nhất định, tính chung cho toàn thể nhân loại, không kể không gian hay thời gian. Nghèo tuyệt đối đƣợc xác định bằng số thu nhập cho 1 cá nhân đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại nhƣ: nhà ở, quần áo, lƣơng thực. Nghèo tuyệt đối là tình trạng không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của một bộ phận dân cƣ. Tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng Thế giới đƣa ra đƣợc các quốc gia trên thế giới thƣờng dựa vào để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia mình.
Trên cơ sở đó, mỗi quốc gia cũng xác định theo từng giai đoạn phát triển nhất định về mức thu 10 nhập tối thiểu riêng dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong nƣớc, từ đó mức thu nhập tối thiểu để xác định hộ nghèo đƣợc thay đổi và nâng dần lên [11]. Tình trạng sống dƣới một mức tiêu chuẩn sống có thể chấp nhận đƣợc tại một địa điểm và thời gian xác định đƣợc gọi là nghèo tƣơng đối. Tuy nhiên, nghèo tƣơng đối có sự khác biệt nhƣ về văn hóa - xã hội, đặc điểm kinh tế, quan niệm của từng quốc gia, từng khu vực, hay vùng miền khác nhau. Nghèo tƣơng đối là tình trạng mà một hộ gia đình hoặc một ngƣời thuộc về nhóm ngƣời có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm cụ thể và thời gian nhất định [11].
Vì vậy, theo các yếu tố tƣơng quan xã hội, phụ thuộc địa điểm dân cƣ sinh sống và phƣơng thức tiêu thụ phổ biến từng nơi để xem xét nghèo tƣơng đối. Trong những địa điểm và thời gian xác định, sự nghèo khổ tƣơng đối đƣợc hiểu là những ngƣời sống dƣới mức tiêu chuẩn. Cho nên, chuẩn mực để xem xét nghèo khổ tƣơng đối thƣờng khác nhau giữa các nƣớc, các quốc gia, hoặc các vùng lãnh thổ, và sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế xã hội nào. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÕ CỦA XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 1.