Tổng quan nghiên cứu

Giảm nghèo bền vững và hạn chế tái nghèo là một trong những mục tiêu kinh tế - xã hội hàng đầu tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa của Việt Nam. Tại tỉnh Đắk Nông, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm liên tục từ 29,25% năm 2010 xuống 26,8% năm 2011, 17,55% năm 2012 và đạt mức 15,64% vào năm 2013. Mặc dù đạt được những bước tiến tích cực, con số này vẫn cao hơn đáng kể so với mức bình quân 9,9% của cả nước trong cùng giai đoạn. Là một huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Đắk Nông với 12 đơn vị hành chính gồm 11 xã và 01 thị trấn, 102 thôn buôn, quy mô dân số 68.990 người cùng mật độ 85 người/km², huyện Krông Nô phải đối mặt với nhiều khó khăn khi có tới 06 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc nhận diện thực trạng nghèo đói và phân tích các nhân tố cốt lõi tác động đến khả năng thoát nghèo cũng như nguy cơ tái nghèo của các hộ dân. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đo lường mức độ bất bình đẳng và lượng hóa tác động của các biến số kinh tế - xã hội đến xác suất nghèo, từ đó đề xuất các định hướng chính sách phù hợp. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao trùm địa bàn huyện Krông Nô, trọng tâm tại hai xã đại diện Đăk Drô và Đăk Sôr; phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2013 kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2013. Luận văn đóng góp giá trị khoa học quan trọng khi cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đặc thù vùng Tây Nguyên, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc giúp địa phương xây dựng giải pháp nhằm hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 15,88% năm 2013 xuống các mục tiêu thấp hơn trong những giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối để thiết lập cơ sở nhận diện đói nghèo. Nghèo tuyệt đối phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không đủ khả năng tài chính để đáp ứng các nhu cầu sinh tồn cơ bản như lương thực, nhà ở, quần áo, căn cứ theo ngưỡng nghèo dinh dưỡng 2100 kcal/người/ngày của Ngân hàng Thế giới hoặc chuẩn nghèo 1,25 USD/người/ngày. Trong khi đó, nghèo tương đối xem xét mức sống dưới chuẩn trung bình của cộng đồng trong một không gian và thời gian cụ thể. Nghiên cứu sử dụng chuẩn hộ nghèo theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, quy định mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực thành thị.

Để đo lường mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và mức sống, nghiên cứu sử dụng đường cong Lorenz và hệ số Gini với biên độ dao động từ 0 đến 1, trong đó giá trị Gini càng gần 1 biểu thị mức độ bất bình đẳng càng cao. Bên cạnh đó, khung phân tích tích hợp lý thuyết bẫy nghèo đói và bài học kinh nghiệm giảm nghèo quốc tế từ Thái Lan về đa dạng hóa nông thôn, chương trình Kinh tế mới của Malaysia giai đoạn 1971 - 1990 giúp giảm tỷ lệ nghèo từ 52,4% xuống 17,1%, cùng các chương trình trọng điểm tại Việt Nam như Chương trình 135 theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg và Chương trình Xây dựng Nông thôn mới theo Quyết định 800/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011 - 2013 từ Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc trong năm 2013 với quy mô mẫu 200 hộ gia đình. Địa bàn khảo sát được chọn là 02 xã Đăk Drô (100 hộ, chiếm 50%) và Đăk Sôr (100 hộ, chiếm 50%) mang tính đại diện cao cho điều kiện tự nhiên, canh tác và dân sinh của toàn huyện. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật bốc thăm ngẫu nhiên đơn thuần từ danh sách hộ dân tại các xã, đáp ứng quy tắc ước lượng kích thước mẫu tối thiểu n lớn hơn 50 cộng 8 lần số biến độc lập theo Tabachnick và Fidell.

Phương pháp phân tích kết hợp thống kê mô tả, phương pháp so sánh định tính và mô hình định lượng hồi quy Binary Logistic. Mô hình hồi quy Binary Logistic được lựa chọn vì biến phụ thuộc là biến định tính nhị phân nhận giá trị bằng 1 nếu hộ thuộc diện nghèo và bằng 0 nếu là hộ không nghèo. Chín biến độc lập được đưa vào mô hình gồm: diện tích đất canh tác, số tiền vay vốn sản xuất, nguyên giá phương tiện sản xuất, giới tính chủ hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp phi nông nghiệp, thành phần dân tộc thiểu số, quy mô nhân khẩu và số người phụ thuộc. Toàn bộ dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 18 và Microsoft Excel 2007, thực hiện đầy đủ các kiểm định Wald, độ phù hợp tổng quát và mức độ chính xác của dự báo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng kinh tế huyện Krông Nô giai đoạn 2011 - 2013 cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao nhưng có sự biến động, đạt 18,44% năm 2011, 13,38% năm 2012 và tăng lên 16,65% năm 2013. Thu nhập bình quân đầu người cải thiện rõ rệt từ 12,439 triệu đồng năm 2009 lên 21,6 triệu đồng năm 2011, 22,8 triệu đồng năm 2012 và đạt 28,0 triệu đồng năm 2013, tăng hơn 2,25 lần sau 5 năm. Cơ cấu kinh tế huyện thuần nông với giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2013 đạt trên 3.000 tỷ đồng, chiếm tới 75% tổng giá trị sản xuất toàn địa bàn, trong khi khu vực thương mại - dịch vụ đạt 700 tỷ đồng (chiếm 17%) và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chỉ đạt 300 tỷ đồng (chiếm 7%). Toàn huyện có gần 19.000 ha đất trồng cây lương thực với tổng sản lượng 123,4 ngàn tấn, trong đó diện tích ngô chiếm 15.000 ha đạt sản lượng 100.000 tấn và diện tích lúa 4.000 ha đạt 26.000 tấn.

Công tác giảm nghèo ghi nhận chuyển biến tích cực: tỷ lệ hộ nghèo giảm dần từ 24,73% năm 2010 xuống 23,00% năm 2011, 18,46% năm 2012 và còn 15,88% năm 2013. Tuy nhiên, tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo năm 2013 vẫn chiếm tới 28,12%, bao gồm 15,88% hộ nghèo và 12,24% hộ cận nghèo. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic từ 200 phiếu điều tra chỉ ra các yếu tố tác động nghịch chiều có ý nghĩa thống kê làm giảm xác suất nghèo gồm: diện tích đất canh tác, quy mô vốn vay phục vụ sản xuất, tổng giá trị phương tiện sản xuất, trình độ học vấn của chủ hộ và việc tham gia ngành nghề phi nông nghiệp. Ngược lại, các biến số làm gia tăng đáng kể xác suất rơi vào cảnh nghèo và tái nghèo là số nhân khẩu trong hộ, tỷ lệ người sống phụ thuộc và chủ hộ là người đồng bào dân tộc thiểu số.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu mô tả rõ nét sự tương phản giữa nhóm hộ nghèo và hộ không nghèo khi được trình bày qua các bảng phân tích chéo và biểu đồ trực quan. Biểu đồ đường cong Lorenz và bảng tính hệ số Gini thể hiện sự chênh lệch đáng kể trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư tại Krông Nô. Nhóm hộ nghèo có quy mô đất sản xuất rất hạn chế, đất đai cằn cỗi và thiếu thốn trang thiết bị máy móc cơ giới, dẫn đến năng suất lao động thấp kéo dài.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chậm thoát nghèo và nguy cơ tái nghèo bắt nguồn từ cấu trúc hộ gia đình đông con, tỷ lệ người phụ thuộc cao khiến gánh nặng chi tiêu y tế và giáo dục vượt quá năng lực tạo thu nhập. Hơn nữa, việc tiếp cận tín dụng chính thức từ Ngân hàng Chính sách Xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của người nghèo còn gặp rào cản do quy mô vốn vay nhỏ và thiếu kỹ năng quản trị dòng tiền. Các kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu trước đây tại Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực duyên hải miền Trung, khẳng định rằng tư liệu sản xuất, vốn tín dụng và năng lực chuyển dịch sang phi nông nghiệp là chìa khóa then chốt để các nông hộ vùng cao vượt qua bẫy nghèo.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả định lượng và mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện Krông Nô xuống dưới 10% đến năm 2020, luận văn đề xuất 4 nhóm khuyến nghị chính sách trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách giao đất và hỗ trợ tư liệu sản xuất cho hộ nghèo. Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần rà soát quỹ đất nông nghiệp 73.500 ha, thực hiện nghiêm Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg nhằm đảm bảo hạn mức giao tối thiểu 1,0 ha đất nương rẫy hoặc 0,5 ha ruộng lúa nước cho mỗi hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất canh tác. Mục tiêu đến năm 2018 hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% hộ dân để tạo điểm tựa sản xuất lâu dài.

Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Krông Nô cần chủ trì nâng định mức vốn vay sản xuất từ mức hiện tại lên mức 30 đến 50 triệu đồng mỗi hộ nghèo trong giai đoạn 2016 - 2020. Quy trình giải ngân cần gắn liền với giám sát phương án kinh doanh, lồng ghép hướng dẫn quản lý tài chính hộ gia đình để hạn chế tối đa rủi ro tái nghèo do sử dụng vốn sai mục đích.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nông nghiệp. Trạm Khuyến nông huyện Krông Nô phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đăk Drô, Đăk Sôr và Buôn Chóah mở rộng các mô hình chuyên canh lúa và ngô ứng dụng công nghệ cao. Phấn đấu đến năm 2020 nâng tỷ lệ trang bị máy móc nông nghiệp cơ bản như máy cày mini, máy bơm nước đạt trên 60% số hộ sản xuất nông nghiệp.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nghề chuyển đổi sinh kế. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì triển khai các lớp dạy nghề ngắn hạn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện lên trên 40% vào năm 2020. Khuyến khích mỗi hộ nghèo có ít nhất 1 lao động tiếp cận kỹ năng nghề phi nông nghiệp nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách tại địa phương, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Nông. Các nhà quản lý có thể sử dụng hệ thống số liệu thực chứng từ 12 xã thị trấn để xây dựng kế hoạch giảm nghèo trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 sát với nhu cầu thực tế của từng thôn buôn.

Nhóm 2: Các tổ chức phát triển xã hội, ban quản lý dự án giảm nghèo như Dự án tăng cường năng lực kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số 3EM, Ngân hàng Thế giới và Oxfam. Luận văn cung cấp khung phân tích 9 biến số tác động để các tổ chức thiết kế gói tài trợ sinh kế, cấp phát phương tiện sản xuất và hỗ trợ kỹ thuật đúng nhóm đích nghèo.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Xã hội học nông thôn. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng mô hình Binary Logistic trên cỡ mẫu 200 quan sát, cách phân tích đường cong Lorenz và tính toán hệ số Gini trong đánh giá nghèo đa chiều.

Nhóm 4: Các tổ chức tín dụng nông thôn và ngân hàng chính sách như Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Cán bộ tín dụng có thể khai thác kết quả về mối tương quan giữa quy mô vốn vay và xác suất thoát nghèo để tối ưu hóa quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn nông hộ.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình kinh tế lượng nào được sử dụng trong luận văn và tại sao lại phù hợp? Luận văn sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic vì biến phụ thuộc là biến định tính nhị phân nhận giá trị 1 đối với hộ nghèo và 0 đối với hộ không nghèo. Phương pháp này xử lý tối ưu mối quan hệ phi tuyến, cho phép ước lượng chính xác xác suất nghèo đói dựa trên 9 biến độc lập từ 200 mẫu điều tra tại 2 xã Đăk Drô và Đăk Sôr.

Các yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến khả năng thoát nghèo của hộ dân? Kết quả hồi quy chỉ ra 3 nhóm yếu tố mang tính quyết định nhất giúp giảm xác suất nghèo gồm diện tích đất canh tác, quy mô vốn vay sản xuất và tham gia ngành nghề phi nông nghiệp. Nông hộ sở hữu trên 1 ha đất sản xuất và tiếp cận nguồn vốn vay trên 20 triệu đồng mỗi năm có tỷ lệ thoát nghèo cao gấp 2,5 lần so với nhóm hộ thiếu đất và thiếu vốn.

Tỷ lệ nghèo tại huyện Krông Nô đã thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2010 - 2013? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Krông Nô đã giảm liên tục qua các năm, cụ thể từ 24,73% năm 2010 xuống còn 23,00% năm 2011, 18,46% năm 2012 và đạt mức 15,88% vào năm 2013. Mặc dù giảm bình quân gần 3% mỗi năm, tỷ lệ này vẫn cao hơn mức 9,9% của cả nước và tỷ lệ hộ cận nghèo năm 2013 vẫn ở mức 12,24%.

Quy mô mẫu 200 hộ tại 2 xã Đăk Sôr và Đăk Drô có đảm bảo tính đại diện cho huyện không? Quy mô mẫu 200 hộ được phân bổ đều 50% cho xã Đăk Drô và 50% cho xã Đăk Sôr, hoàn toàn đáp ứng công thức mẫu tối thiểu của Tabachnick và Fidell. Hai xã này đại diện tiêu biểu cho huyện Krông Nô về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tỷ lệ dân tộc thiểu số và điều kiện thổ nhưỡng vùng sản xuất ngô hàng hóa trọng điểm.

Vì sao đồng bào dân tộc thiểu số tại Krông Nô có nguy cơ tái nghèo cao hơn? Đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện chiếm tỷ trọng lớn trong 6 xã đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn chủ hộ phần lớn ở bậc tiểu học hoặc trung học cơ sở và canh tác dựa vào tự nhiên. Hơn nữa, quy mô nhân khẩu bình quân trên 5 người mỗi hộ cùng tỷ lệ phụ thuộc cao khiến nhóm đối tượng này dễ tổn thương trước các biến động giá nông sản và thời tiết.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập và các mô hình giảm nghèo bền vững áp dụng cho địa bàn nông thôn miền núi.
  • Thực trạng phát triển kinh tế huyện Krông Nô giai đoạn 2011 - 2013 ghi nhận thu nhập bình quân đầu người tăng từ 21,6 lên 28 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm ấn tượng từ 24,73% xuống 15,88%.
  • Kết quả mô hình Binary Logistic từ 200 mẫu khảo sát xác định diện tích đất, vốn vay, phương tiện sản xuất và việc làm phi nông nghiệp là các nhân tố then chốt thúc đẩy thoát nghèo.
  • Bốn nhóm khuyến nghị chính sách trọng tâm về giao đất sản xuất, mở rộng tín dụng ưu đãi 30 đến 50 triệu đồng mỗi hộ, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và dạy nghề tạo lộ trình khả thi cho giai đoạn 2016 - 2020.
  • Đây là công trình tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển đang tìm kiếm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao đời sống dân cư và giảm nghèo bền vững tại vùng Tây Nguyên.