CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN cứu 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài CTCP chứng khoán giữ vai trò vô cùng quan trọng trên thị trường chứng khoán, chính vì vậy, việc nghiên cứu ve CTCP chứng khoán là hết sức cần thiết. Đà có các công trình klioa học nghiên cứu về các CTCP chứng khoán và cách tiếp cận theo nhiều phương diện khác nhau. Tác giả điêm qua và đánh giá một số công trình tiêu biểu như sau: • Nghiên cứu của Yeh và cộng sự (2010) Tác giả Yeh và cộng sự (2010) đã thực hiện nghiên cứu về hiệu quâ hoạt động của 14 công ty chứng khoán trong hệ thống tài chính của Đài Loan, với tiêu đề “Measuring the efficiency of securities companies by corporate governance in a financial holding and non-financial holding system ”.
Ket quả nghiên cứu cho thay những CTCK tăng tỉ lệ sờ hữu cô phần của cô đông lớn sẽ cải thiện được hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, lợi nhuận từ hoạt động bán chứng khoán cũng góp phần làm tăng hiệu quả của CTCK. Tuy nhiên, quy mô hội đồng quản trị và việc kiêm nhiệm chức danli chủ tịch kiêm giám đốc không ânlì hưởng đến hiệu quả hoạt động của CTCK. Ket quả này gợi mờ giải pháp đê nâng cao hiệu quả hoạt động của CTCK thông qua việc tăng quy mô vốn và tối ưu hóa cơ cấu cô đông, đặc biệt là thu hút các cô đông chiến lược.
Những thay đôi này sè giúp cải thiện doanh thu và lợi nhuận cho các CTCK. • Nghiên cửu cũa Bayyurt và Akĩn (2014) Tác giả Bayyurt và Akin (2014) với công trình “Effects of Foreign Acquisitions on the Performance ofSecurities Firms: Evidence from Turkey”. Trong công trình này, các tác giả thực hiện ước lượng ảnh hường của mua bán sáp nhập tìĩ nhà đầu tư nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các CTCK - minh chứng từ Thổ Nhĩ Kỳ. Các tác giâ sử dụng bộ dữ liệu gồm 103 CTCK trong giai đoạn 2005-2011 với tông cộng 600 số quan sát.
Ket quâ nghiên cứu cho thay, hoạt động sáp nhập có ảnh hường cùng chiều đến hiệu quà hoạt động CTCK. Ảnh hường cùng chiều này 7 CÓ mức ý nghĩa sau hai năm kê từ lúc sáp nhập, và ảnh hường cùng chiều này sẽ có mức độ mạnh hơn trong những năm sau đó. Đây là một nghiên cứu có ý nghía, cung cap bằng chứng thực nghiệm về tác động của mua bán sáp lìliập quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các CTCK, một chủ đề còn ít được nghiên cứu trước đây. • Nghiên cứu của Fang và cộng sự (2014) Fang và cộng sự (2014) trong nghiên cứu “Determinants of the profitability of securities firms in China ” đã phân tích các yếu tố quyết địnli lợi nhuận của các công ty chứng khoán Tiling Quốc trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2012.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiêm toán của 109 công ty chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết tại Trung Quốc. Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bâng (panel data regression) đê xác định mối quan hệ giữa các yếu tố và lợi nhuận của công ty chứng khoán, đo lường bang chỉ so ROE (Return on Equity). Ket quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Quy mô vốn (đo lường bằng logarit tự nhiên của tông tài sản) có tác động tích cực và đáng kê đến ROE. Các công ty có quy mô vốn lớn hơn thường đạt lợi nhuận cao hơn.
Năng lực quân trị (đo lường bằng tỉ lệ chi phí quản lý trên doanh thu) có quan hệ nghịch biến với ROE. Công ty với năng lực quân lý tốt hơn (chi phí quản lý/doanli thu thấp hơn) có xu hướng sinh lời tốt hơn. • Nghiên cứu của Luo, D. (2016) Nghiên cứu của Luo, D.
Nghiên cứu này xem xét tác động của việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) đến hiệu quả tài chính của các công ty chứng khoán. Dữ liệu được thu thập từ các công ty chứng klioán ở Tiling Quốc trong giai đoạn tìr năm 2010 đến năm 2014. Các tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đề đánh giá mối quan hệ giữa việc áp dụng CNTT và các chi số hiệu quâ tài chính như tỷ suất sinh lời trên tài sân (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hừu (ROE) và tỉ lệ chi phí trên doanh thu (CIR). Nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố kiểm soát nliư quy mô công ty, tỉ lệ đòn bấy tài chính và tăng tnrởng GDP.
Đây là một nghiên cứu quan trọng vì nó cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của CNTT đối với hiệu quả tài chính của các công ty 8 chứng klioán, một chủ đề còn ít được khám phá tnĩớc đây. Kết quả cho thấy việc áp dụng CNTT có tác động tích cực đáng kê đến ROA, ROE và CIR của các công ty chứng khoán, cho thấy tầm quan trọng của đầu tư vào CNTT trong ngành này. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giới hạn ờ thị trường chứng khoán Tiling Quốc, do đó kết quả có thể không áp dụng cho các thị trường khác có đặc diêm kliác biệt. Ngoài ra, nghiên cứu kliông đi sâu vào việc phân tích cụ thể nliững ứng dụng CNTT nào có tác động lớn nhất đến hiệu quả tài chínli, điều này có thể là hướng nghiên cứu trong tương lai.
Nhìn chung, đây là một nghiên cứu có giá trị, cung cấp bằng chứng quan trọng về lợi ích của việc áp dụng CNTT trong ngành chứng klioán, đồng thời mờ ra hướng nghiên cứu mới về chủ đề này. • Nghiên cứu cúa Takai (2017) Tác giả Takai (2017) với công trình “What Kind of Companies Are Withdrawing? The Case of the Japanese Online Securities Industry ” đã nghiên cứu về việc rút lui của các công ty chứng khoán (CTCK) trực tuyến tại Nhật Bản, những công ty có quy mô vốn nhỏ. Trong giai đoạn đau, ông khảo sát 70 CTCK trực tuyến và nhận thấy đến tháng 9/2003, số lượng này giảm xuống còn 56 công ty. Đáng chú ý, có đến 4 trong số 6 công ty nước ngoài (chiếm 67%) đã ngừng hoạt động và nít lui khỏi thị trường.
Ngược lại, không có công ty trong nước nào trong số 22 công ty ngừng hoạt động, tuy nhiên con số này giảm đi 9 (chiếm 41%) do sáp nhập. Nguyên nhân được Takai phát hiện ra là các CTCK rút lui không phải do kinh doanh suy yếu, mà do tái cơ cấu tài chính trong một khoảng thời gian ngan. Ket quả này gợi mở giải pháp sáp nhập đê có quy mô nguồn lực tài chính lớn hơn cho các CTCK trực tuyến. Đồng thời, nghiên cứu cũng khẳng địnli được thế mạnh của mô hình CTCK trực tuyến trong bối cảnh thị trường chứng khoán Nhật Bân.
Nhìn chung, công trình của Takai (2017) mở ra nhiều hướng nghiên cứu tiềm năng về sự phát triển và thách thức của ngành công nghiệp chứng khoán tạrc tuyến ở Nhật Bàn và trên the giới. • Nghiên cứu của Gemici và cộng sự (2019) Tác giả Gemici và cộng sự (2019) với công trình "How global are investment banks? An analysis of investment banking networks in Asian equity capital markets ”. Trong công trình này Gemici và cộng sự thực hiện nghiên cứu liên quan 9 đến mua bán sáp nlìập của các ngân hàng đầu tư. Các tác giả đã chỉ ra, các ngân hàng đầu tư hoạt động nổi trội khi cung cấp các dịch vụ tư vấn và quân lý cho các giao dịch tài chính phức tạp và tạo vốn cho các tập đoàn, tô chức và chính phủ.
Hai hoạt động chính là bảo lãnh phát hành và mua bán và sáp nhập. Gemici và cộng sự đã gợi mở cho một số CTCK nghiên cứu chiến lược kinh doanh mô hình ngân hàng đầu tư, và đồng thời CTCK có thê áp dụng chiến lược mua bán sáp nhập nhằm nâng cao năng lực tài chính. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa chi rõ cụ thê các công ty có đặc diêm cụ thê nào đe có thể phát triển mô hình hoạt động theo mô hình ngân hàng đầu tư. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về công ty cổ phần chứng khoán đã đề cập đen nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đen hiệu quả hoạt động tài chính của các công ty này.
Các nghiên cứu thường sử dụng các phương pháp định lượng như hồi quy, mô hình dữ liệu bảng, hay phương pháp phi tham số như DEA đê phân tích dữ liệu thu thập tít báo cáo tài chính công ty. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Các công trình nghiên cửu ờ Việt Nam ve CTCP chứng khoán nói chung, về hoạt động tài chính của công ty chứng khoán nói riêng vốn rất đa dạng và phong phú, có thê kê ra và đánh giá các công trình tiêu biểu như sau: • Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Anh (2014) Tác giả Trần Thị Xuân Anh (2014) với luận án Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng, với đề tài “Tăng cường quân Jý rủi ro trong hoạt động kinh doanh cùa các công ty cỏ phần chứng khoán ô' Việt Nam ” đã làm rõ các loại rủi ro trong hoạt động của công ty chứng khoán tồn tại dưới hình thức công ty cô phan. Nghiên cứu cũng xây dựng hệ thống quy trình quân lý rủi ro, các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của CTCK, và phân tích hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro. Theo tác giả, các rủi ro chính mà CTCK phải đối mặt bao gồm rủi ro thanli toán, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chínli, rủi ro thủ tục quy trình và rủi ro điều hành quân lý.
Đồng thời, nghiên cứu cũng gợi ý rằng năng lực tài chinh (NLTC) của công ty cao thường có xu hướng quản lý rủi ro đầy đủ hơn, giâm thiểu các nguy cơ rủi ro tài chính. Nguyên nhân là do quy mô 10 vốn sẽ quyết định đến mức độ thực hiện nghiệp vụ kinli doanh (đầy đủ hoặc chi một vài nghiệp vụ) của CTCK. • Nghiên cứu của Nguyễn Duy Hùng (2016) Tác giả Nguyễn Duy Hùng (2016), với luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc Dân, nghiên cứu về “Nâng cao năng ìực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam ”. Tác giả vận dụng mô hình của Thompson và Strickland (2001) đê xác định 7 yếu tố nội bộ tác động đến năng lực cạnli tranh, trong đó có yếu tố tiềm lực tài chính.
Theo đó, tiềm lực tài chính giúp phát huy thế mạnh về con người, phát triển sản phẩm, mở rộng quy mô, nâng cao an toàn và hiệu quả hoạt động. Các tiêu chí đánli giá tiềm lực tài chính bao gồm quy mô vốn, khả năng sinh lời, an toàn tài chính và năng lực huy động vốn.