Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người dân tại huyện giồng trôm tỉnh bến tre

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Giồng Trôm, Bến Tre.

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.7. KẾT CẤU LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Hành vi gian lận

2.2. Hành vi gian lận thuế

2.3. CÁC HÌNH THỨC GIAN LẬN THUẾ TNCN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

2.4. TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI GIAN LẬN

2.5. TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ

2.6. MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.6.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.6.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

3.3. XÂY DỰNG THANG ĐO CHO CÁC BIẾN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ TNCN TỪ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

3.4. PHƯƠNG THỨC LẤY MẪU

3.5. Kích thước mẫu

3.6. Xử lý và phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT

4.2. KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO

4.3. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA

4.3.1. Kết quả phân tích EFA các nhân tố độc lập

4.3.2. Phân tích EFA nhân tố phụ thuộc

4.4. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THIẾT

4.4.1. Phân tích tương quan

4.4.2. Phân tích hồi quy bội

4.4.3. Dò tìm sự vi phạm giả định cần thiết trong hồi quy bội

4.4.4. Kiểm định các giả thuyết

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HẠN CHẾ HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ TNCN TỪ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

5.1.1. Động cơ gian lận thuế TNCN

5.1.2. Khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế TNCN

5.1.3. Liên quan đến yếu tố cơ hội gian lận thuế TNCN

5.2. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng đất tại Bến Tre

Gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một vấn đề nghiêm trọng tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước mà còn gây ra sự bất công trong nghĩa vụ thuế của người dân. Theo báo cáo của Chi cục Thuế huyện Giồng Trôm, tỷ lệ gian lận thuế trong chuyển nhượng đất đang gia tăng, với nhiều hình thức khác nhau. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế là cần thiết để có những biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về gian lận thuế

Gian lận thuế được hiểu là hành vi vi phạm pháp luật nhằm giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Hành vi này có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, từ việc kê khai sai giá trị chuyển nhượng đến việc lợi dụng các quy định miễn thuế. Theo Nghị định 100/2004/NĐ-CP, hành vi trốn thuế là hành vi làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc miễn giảm.

1.2. Tình hình gian lận thuế tại huyện Giồng Trôm

Tại huyện Giồng Trôm, tình trạng gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra phổ biến. Theo thống kê, hơn 80% số lượt chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kê khai với giá trị thấp hơn giá thực tế. Điều này không chỉ gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn tạo ra sự bất công giữa những người dân có đất chuyển nhượng.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Các yếu tố này bao gồm động cơ, cơ hội và khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận. Việc nhận diện và phân tích các yếu tố này sẽ giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn.

2.1. Động cơ gian lận thuế

Động cơ gian lận thuế thường xuất phát từ mong muốn giảm thiểu nghĩa vụ thuế. Người dân có thể cảm thấy áp lực tài chính hoặc muốn tối đa hóa lợi nhuận từ việc chuyển nhượng đất. Theo nghiên cứu, động cơ này là một trong những yếu tố chính dẫn đến hành vi gian lận thuế.

2.2. Cơ hội gian lận thuế

Cơ hội gian lận thuế xuất hiện khi có những kẽ hở trong hệ thống pháp luật và quản lý thuế. Tại Bến Tre, việc thiếu thông tin và kiểm tra từ cơ quan thuế tạo điều kiện cho người dân thực hiện hành vi gian lận. Hệ thống thông tin quản lý chưa hoàn thiện là một trong những nguyên nhân chính.

2.3. Khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận

Khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế là yếu tố quan trọng giúp người dân biện minh cho hành vi của mình. Nhiều người cho rằng việc gian lận thuế là bình thường và không gây hại cho ai. Điều này cần được thay đổi thông qua giáo dục và nâng cao nhận thức về nghĩa vụ thuế.

III. Phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận thuế

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp với định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân. Dữ liệu được thu thập từ bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu với người dân có chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn sâu. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được sử dụng để đảm bảo tính đại diện cho mẫu nghiên cứu. Các câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin về động cơ, cơ hội và khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận.

3.2. Phân tích dữ liệu

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS để thực hiện phân tích nhân tố và hồi quy. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế. Kết quả phân tích sẽ giúp đưa ra những nhận định chính xác về tình hình gian lận thuế tại địa phương.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như động cơ, cơ hội và khả năng hợp lý hóa có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Những phát hiện này có thể được áp dụng để xây dựng các chính sách thuế hiệu quả hơn tại Bến Tre.

4.1. Kết quả phân tích hồi quy

Phân tích hồi quy cho thấy rằng động cơ và cơ hội là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hành vi gian lận thuế. Kết quả này cho thấy cần có những biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu động cơ gian lận và tăng cường kiểm tra thuế.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào chính sách thuế

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách thuế nhằm hạn chế hành vi gian lận. Cần tăng cường giáo dục về nghĩa vụ thuế và cải thiện hệ thống quản lý thuế để giảm thiểu gian lận thuế tại địa phương.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một vấn đề nghiêm trọng tại Bến Tre. Để giải quyết vấn đề này, cần có những biện pháp đồng bộ từ phía cơ quan thuế và chính quyền địa phương. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc cải thiện hệ thống quản lý thuế và nâng cao nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế.

5.1. Đề xuất giải pháp hạn chế gian lận thuế

Cần xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế hành vi gian lận thuế, bao gồm cải thiện hệ thống thông tin quản lý thuế và tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế. Đồng thời, cần có các chương trình giáo dục về nghĩa vụ thuế cho người dân.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về gian lận thuế

Nghiên cứu về gian lận thuế cần tiếp tục được thực hiện để theo dõi tình hình và đánh giá hiệu quả của các chính sách thuế. Việc nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận sẽ giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn trong tương lai.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người dân tại huyện giồng trôm tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, tác giả giới thiệu đề tài nghiên cứu, đề tài đã trình bày một cách tóm tắt nội dung luận văn, từ lý do nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu đến việc đề ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, thông qua phương pháp nghiên cứu và xác định kết quả. Tiếp theo, chương 2 tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm, thuật ngữ chính sử dụng trong luận văn và lý thuyết hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cuối cùng đề cập đến kết quả của các nghiên cứu về hành vi gian lận thuế trước đây. Hành vi gian lận Theo từ điển tiếng Việt, hành vi gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khóe nhằm lừa gạt người khác.

Theo nghĩa rộng, gian lận là việc thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá nhân hay cho tổ chức. Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp như nhận tiền hay tài sản, hay gián tiếp tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng. Khi tổ chức thực hiện gian lận th́ lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên.

Có ba cách thông thường nhất để thực hiện gian lận, đó là: chiếm đoạt, lừa đảo và biển thủ. Trần thị Giang Tân, (2009).Về phương diện kế toán, theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 10, gian lận được định nghĩa là những sai sót trong tính toán, trong việc áp dụng chính sách kế toán, giải thích sai thực tế, gian lận hoặc cố ý bỏ sót. Trần thị Giang Tân, (2009). Về phương diện kiểm toán, theo chuẩn mực kiểm toán số 240, gian lận được định nghĩa như sau: Gian lận là hành vi cố ý của một người hay một nhóm người như nhân viên, ban giám đốc hay bên thứ ba nhằm lừa gạt để thu được những lợi ích bất chính.

Gian lận làm thay đổi, làm giả mạo các chứng từ kế toán hoặc ghi chép sai; không trình bày hoặc cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên báo cáo tài chính; cố ý không áp dụng, không tuân thủ các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, ghi các nghiệp vụ không xảy ra. Như vậy, hành vi gian lận là cố ý bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ phát sinh hay công bố thiếu thông tin tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng thông tin, đặc biệt là nhà đầu tư và chủ nợ. Hành vi gian lận thuế Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước. Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế, đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi gian lận thuế. Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao (Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến, 2003). Theo Nghị định 100/2004/NĐ-CP: Hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. CÁC HÌNH THỨC GIAN LẬN THUẾ TNCN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Cũng như các loại thuế khác, gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là những hành vi làm giảm số thuế phải nộp.

Mục đích cuối cùng của hành vi này là tối đa hóa lợi nhuận tăng thu nhập cho các cá nhân, tối thiểu hóa chi phí thuế bằng cách tối thiểu hóa các khoản thuế mà họ phải nộp cho Ngân sách Nhà nước. Minh Khuê (2010), các hành vi gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta hiện nay thể hiện ở một số hình thức sau đây: Tự khai là tài sản duy nhất Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế.

Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Hạ giá chuyển nhượng Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định.

Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế. Chuyển nhượng bắc cầu Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng bất động sản cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.

Tuy gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diễn ra với những hình thức đơn giản hơn các loại thuế khác, nhưng công tác kiểm tra, phát hiện rất khó, đồng thời những hành vi gian lận này cũng gây thất thu rất lớn cho Ngân sách Nhà nước, mặt khác gây ra sự bất công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế của người dân. Tương tự ở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre các hành vi gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng diễn ra không ngoài các hình thức gian lận như đã nêu trên. Chi cục Thuế Giồng Trôm, (2013). Hành vi gian lận thuế còn được thực hiện dễ dàng thông qua hình thức mua bán bằng giấy tay, hoặc mua bán bằng các hợp đồng chuyển nhượng (sang tay) và chỉ đăng ký với Nhà nước trong lần chuyển nhượng cuối cùng, điều này dẫn đến thất thu thuế nghiêm trọng nếu như khoản cách giữa lần sang tay đầu tiên và lần sang tay cuối cùng dài nhĩa là qua nhiều lần, nhiều chủ.

Kết luận: hành vi gian lận thuế là là việc người nộp thuế dùng các thủ đoạn bất hợp pháp để không phải nộp thuế hoặc làm giảm số thuế phải nộp.Đối với thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì những hành vi gian lận bao gồm: tự khai là nhà ở duy nhất, chuyển nhượng bắc cầu, chuyển nhượng sang tay, hạ giá chuyển nhượng… Gian lận thuế làm thất thu Ngân sách Nhà nước, không đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế, ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư, kinh doanh. Mức độ gian lận thuế ở các nước khác nhau phụ thuộc vào chính sách thuế (có kẽ hở dễ bị lợi dụng), hiệu quả của công tác quản lý thuế, các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI GIAN LẬN Donal R .Cressey(1987) Hoàn cảnh nghiên cứu: Donald R.

Cressey là nhà nghiên cứu về tội phạm tại trường Đại học Indiana (Mỹ) vào những năm 40 của thế kỷ 20. Cressy đã chọn việc nghiên cứu về vấn đề tham ô, biển thủ làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình. Cách tiếp cận nghiên cứu: Donald R. Cressey tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ thông qua khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trên.

Ông đã đưa ra mô hình: Tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày về các nhân tố dẫn đến các hành vi gian lận mà ngày nay đã trở thành một trong những mô hình chính thống dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận. Mô hình nghiên cứu của ông được mô tả như sau: HỢP LÝ HÓA HÀNH VI GIAN LẬN ĐỘNG CƠ CƠ HỘI Hình 2. Mô hình tam giác gian lận Kết quả nghiên cứu: Theo Donald R. Cressey, gian lận chỉ phát sinh khi hội đủ 3 nhân tố sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Động cơ gian lận, thường phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ chức chịu áp lực.

Áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như do khó khăn về tài chính, do sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa ngưởi chủ và người làm thuê.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ