Chương 1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại Sacombank chi nhánh Quảng Bình. Hàm ý quản trị thúc đẩy khách hàng lựa chọn và sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại Sacombank chi nhánh Quảng Bình.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dịch vụ Mobile Banking 1. Khái niệm Kể từ năm 1990, mạng internet không dây đã không ngừng được phát triển. Các sản phẩm của công nghệ di động là các dịch vụ dữ liệu không dây tinh vi, tập trung vào việc truy cập di động vào internet và nhắn tin điện tử trên thiết bị di động.
Internet “trong túi của bạn” có rất nhiều ứng dụng tiềm năng, thông tin du lịch, tin tức, mua sắm…Theo Shaikh và Karjaluoto (2015) Mobile Banking được thực hiện kể từ cuối những năm 1990, khi công ty Paybox của Đức, hợp tác với Deutsch Bank đã đưa ra dịch vụ đầu tiên. Ban đầu, nó đã được triển khai và kiểm tra chủ yếu ở các nước Châu Âu như Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Áo và Mỹ.Có nhiều định nghĩa khác nhau về Mobile Banking, như: Mobile Banking là việc thực hiện các giao dịch của khách hàng với ngân hàng bằng điện thoại di động hoặc một thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân không dây có kết nối internet (Barnes và Cosrtt, 2003; Riquelme và Rios, 2010). Một vài nghiên cứu trước đây đưa ra khái niệm Mobile Banking là một kênh truyền thông sáng tạo, trong đó khách hàng tương tác với ngân hàng thông qua một thiết bị di động (Faria, 2012). Một số nghiên cứu khác như Alafeef và cộng sự (2012), Harma và Dubey (2009); Lee và Chung (2009) cho rằng Mobile Banking là một hình thức thương mại điện tử cho phép khách hàng truy cập vào tài khoản ngân hàng thông qua một thiết bị di động để thực hiện các giao dịch như kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, thực hiện thanh toán hoặc giao dịch chứng khoán.
Tuy nhiên, với các khái niệm trên, chưa rõ thiết bị di động nào đủ điều kiện để sử dụng thuật ngữ Mobile Banking. Chẳng hạn, máy tính xách tay có thể sử dụng để truy cập vào các dịch vụ ngân hàng, đây cũng là một thiết bị di động không dây. Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng từ máy tính xách tay không nên được coi là thiết bị áp dụng cho Mobile Banking, vì giao diện sử dụng tương tự như 8 dùng máy tính để bàn (có thể coi là internet banking). Do vậy, trong nghiên cứu này, Mobile Banking được sử dụng trong bài theo khái niệm của Shaikh và Karjaluoto (2015): Mobile Banking là một sản phẩm dịch vụ được cung cấp bởi ngân hàng để thực hiện các giao dịch tài chính và phi tài chính thông qua điện thoại di động hoặc máy tính bảng.
Đặc điểm Mobile Banking là hình thái của ngân hàng điện tử và thương mại di động nên có một số đặc điểm như tính rộng khắp, khả năng tiếp xúc, sự định vị, tính cá nhân hóa, tính phổ biến, tính thuận tiện và tính tức thì. Theo Shaikh và Karjaluoto (2015) thì Mobile Banking có những đặc điểm cơ bản sau: - Tính rộng khắp (Ubiquity): Mobile Banking có thể đáp ứng nhu cầu cho khách hàng về thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ độc lập với vị trí địa lý hiện tại của người sử dụng – Mobile Banking cho phép khách hàng sử dụng dịch vụ mọi lúc, mọi nơi. - Khả năng tiếp xúc (Reachability): Bằng thiết bị di động, khách hàng có khả năng liên hệ với người khác và các ngân hàng cũng có thể tiếp cận với khách hàng để cung cấp dịch vụ Mobile Banking bất cứ lúc nào hay ở đâu. - Sự định vị (Localization): Với các công nghệ về định vị như hệ thống định vị toàn cầu (GRRS), cho phép các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở một vị trí địa lý cụ thể cho khách hàng như địa điểm đặt máy ATM, Kios hay chi nhánh của ngân hàng….
- Tính cá nhân hóa (Personalization): Điện thoại di động có phần thiết lập và cài đặt theo sở thích để lưu dữ liệu và cho phép tiếp cận thông tin, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân. Do đó, với dịch vụ Mobile Banking khách hàng có thể thiết lập các tùy chọn giao diện, phương thức kết nối sử dụng dịch vụ và bảo mật các thông tin tài chính cá nhân. - Tính phổ biến (Dissemination): Cơ sở hạ tầng mạng viễn thông hỗ trợ việc cung cấp dữ liệu, thông tin đồng thời đến tất cả khách hàng sử dụng di động trong khu vực địa lý nhất định. Tính năng này cung cấp một phương tiện hiệu quả để phổ 9 biến thông tin đến một số lượng lớn khách hàng sử dụng Mobile Banking.
- Tính thuận tiện (Convenience): Mobile Banking giúp cho khách hàng đã sử dụng điện thoại di động cảm giác quen thuộc và đơn giản khi thực hiện dịch vụ. Bên cạnh đó, với Mobile Banking thì khách hàng tin tưởng vào khả năng thực hiện dịch vụ luôn ở trong tầm tay mọi lúc mọi nơi. - Tính tức thì (Immediacy): Tính tức thì làm tăng sự hấp dẫn với các dịch vụ mà Mobile Banking đem lại cho khách hàng, đó là đáp ứng nhu cầu tức thời của khách hàng mọi lúc mọi nơi như: cập nhật thông tin về tỷ giá, thông tin môi giới chứng khoán, giá cả hàng hóa cơ bản… Tính tức thì sẽ giúp khách hàng không phải lo sợ bị bỏ lỡ một số thông tin quan trọng hoặc có khả năng nhận được các thông tin quan trọng từ ngân hàng khi đã quá muộn. Các nền tảng của dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động Barnes và Cobitt (2003) đã chỉ ra các ứng dụng đầu tiên của Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động được thực hiện ở Phần Lan.
Đầu năm 1992, khách hàng của Merita Nordbanken đã có thể thực hiện thanh toán hóa đơn và kiểm tra số dư tài khoản bằng cách sử dụng điện thoại di động (dựa trên GMS – Tiêu chuẩn toàn cầu cho mạng di động). Gần đây, các ứng dụng Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động đã dựa vào việc xây dựng một số tiêu chuẩn then chốt cho dịch vụ điện tử không dây và mở rộng sang thị trường toàn cầu. Từ các nền tảng giao thức ứng dụng không dây, dịch vụ tin nhắn (SMS) cho đến dựa trên ngôn ngữ siêu văn bản nhỏ. Cụ thể, các nền tảng của Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động như sau: - Giao thức ứng dụng không dây: WAP là một tiêu chuẩn phổ biến để đưa nội dung trên mạng và nâng cao các giá trị dịch vụ giá trị gia tăng cho các thiết bị không dây như điện thoại và các thiết bị hỗ trợ cá nhân (Barnes và Cobitt, 2003).
Dịch vụ ngân hàng di động là một trong những dịch vụ hỗ trợ giao dịch đầu tiên được cung cấp bằng cách sử dụng WAP nền tảng. Khách hàng đăng nhập vào dịch vụ WAP banking để thực hiện nhiều dịch vụ của Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động. Thông thường chúng bao gồm: quản lý tài khoản; kiểm tra tình trạng 10 của một số séc; chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác; yêu cầu một tuyên bố giao dịch; yêu cầu một số séc; hủy một yêu cầu dịch vụ; kiểm tra tình trạng yêu cầu dịch vụ; thay đổi mật khẩu; thanh toán hóa đơn tiện ích; tìm kiếm thông tin sản phẩm; kiểm tra chi nhánh. Ngoài ra các Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động phức tạp hơn cũng có thể cung cấp như giao dịch chứng khoán và tiếp cận thị trường ngoại hối (Barnes và Cobitt, 2003).
- Dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động với thiết bị cầm tay (PDA) Bên cạnh các ứng dụng được ngân hàng thiết kế để sử dụng trên điện thoại di động, có một số ứng dụng cho phép ngân hàng di động bằng cách sử dụng PDA thay thế. Trước tiên, PDA dễ dàng cung cấp khả năng để lưu trữ và thực hiện các phần mềm cá nhân trên đó. Trái ngược với điện thoại di động, dữ liệu có thể được lưu trữ trên PDA và do sức mạnh xử lý của nó là có thể xử lý phức tạp nhiều tính toán hơn. Giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng thông qua điện thoại di động được thực hiện qua SMS.
- Bộ công cụ ATH (ATH – Tookit) và ứng dụng khách hàng độc lập Bộ ứng dụng công cụ ATH là một hệ thống GSM chuẩn truyền thông mở rộng giữa ATHcard và thiết bị di động. Một hàm ý quản trị tương ứng là lưu trữ ứng dụng ngân hàng di động trên thẻ ATH của người dùng. Các nhà điều hành sẽ cung cấp các phần mềm ứng dụng. Thông thường, các nhà điều hành mạng sử dụng điều này để cung cấp ứng dụng khác nhau, ví dụ: để biết thông tin hoặc giải trí dịch vụ, khách hàng có thể biết thông qua cấu trúc menu của điện thoại di động.
Các ứng dụng này có thể truy cập vào các dịch vụ của ngân hàng cung cấp. Cơ sở lý thuyết về hành vi sử dụng dịch vụ Mobile Banking của khách hàng cá nhân 1. Khái niệm hành vi khách hàng cá nhân Theo Kotler (2011), hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Mục đích của marketing là đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn 11 của khách hàng mục tiêu.
Thế nhưng việc “hiểu được khách hàng” không hề là một câu chuyện đơn giản. Khách hàng có thể nói ra những nhu cầu và mong muốn của mình, nhưng lại làm theo một cách khác. Họ có thể không thể nắm được động cơ sâu xa của chính mình. Họ có thể đáp ứng những tác động làm thay đổi suy nghĩ của họ vào giây phút cuối cùng.
Dù vậy, những người làm marketing vẫn phải nghiên cứu những mong muốn, nhận thức, sở thích và các hành vi lựa chọn và mua sắm của khách hàng mục tiêu. Việc nghiên cứu như vậy sẽ làm cho người ta những gợi ý để phát triển sản phẩm mới, tính năng của sản phẩm, xác định giá cả, các kênh, nội dung thông tin và những yếu tố khác trong marketing mix. Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ: hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng.