phần mở đầu, kết luận và phụ lục bao gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Thảo luận và kết luận 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 1. Rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thanh khoản 1. Khái niệm thanh khoản Thuật ngữ “thanh khoản” thường được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh.
Tính thanh khoản của tài sản có thể được dùng để mô tả mức độ dễ dàng, nhanh chóng để chuyển đổi một tài sản nào đó thành tiền mặt với chi phí thấp nhất (Berger và Bouwman, 2009). Thanh khoản của một công ty cũng có thể được sử dụng để mô tả lượng tiền mặt hoặc tương đương tiền mà công ty đó sở hữu; càng sở hữu nhiều tài sản có tính thanh khoản thì tính thanh khoản của công ty càng cao. Đối với doanh nghiệp, tỷ số thanh toán hiện hành rất quan trọng vì nó xác định khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty khi chúng đến hạn (Van Ness, 2009). Đứng trên góc độ quản trị ngân hàng, thanh khoản thường được hiểu là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình giao dịch như chi trả cho các khoản tiền gửi đến hạn, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác.
Thanh khoản của NHTM chủ yếu liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Do đó, Duttweiler (2009) định nghĩa: “thanh khoản thể hiện phạm vi thực hiện nghĩa vụ và khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng”. Ngược lại, nếu trong quá trình hoạt động, nếu các NHTM không thực hiện được hoặc không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán thì sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản hoặc mất khả năng thanh khoản. Vì thế, theo Duttweiler (2009) “thiếu khả năng thanh khoản, nghĩa là ngân hàng thiếu khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán”.
Cũng theo Duttweiler (2009), có hai khía cạnh khác nhau về thanh khoản cần phải được phân biệt, đó là thanh khoản chủ động và thanh khoản bị động. Trong đó, thanh khoản bị động được hiểu là các lưu chuyển tiền xuất phát từ bên tài sản hoặc bên nợ nhưng có thời gian đáo hạn đã cam kết trước. Trong lĩnh vực ngân hàng, các hoạt động đi vay hoặc gửi tiền của khách hàng thường được tái tục, với cùng giá trị hoặc với giá trị nhỏ hơn hoặc lớn hơn nhưng theo mong muốn chủ quan của khách hàng, ngân hàng không thể quyết định được mà chỉ có thể dùng các cách thức khác nhau để tác động đến các động cơ của khách hàng. Thanh khoản chủ động là dòng tiền được chính các NHTM tạo ra thông qua khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo 4 hạn.
Ngân hàng có thể sử dụng các công cụ hiện đại như chứng khoán hóa, bán các khoản cho vay, hoặc bán các chứng khoán trên thị trường thứ cấp… để tạo thanh khoản theo cách này. Tương tự, Ủy ban Basel trong tài liệu về quản lý ngân hàng (BCBS, 2004) cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn …” 1. Cung – Cầu thanh khoản Thanh khoản của NHTM được hình thành dựa trên hai yếu tố là các dòng cung thanh khoản và các dòng cầu thanh khoản. Cung thanh khoản thường được tạo lập từ huy động tiền gửi, các khoản cho vay được hoàn trả, các khoản thu nhập từ dịch vụ, các khoản vay từ thị trường tiền tệ, các khoản bán tài sản, phát hành cổ phiếu ra thị trường.
Cầu thanh khoản phản ánh dòng tiền ra khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau. Cầu thanh khoản thường xuất phát từ các hành động như chi trả tiền gửi cho khách hàng, cấp tín dụng cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chi phí quản lý điều hành và chi phí dịch vụ, chi phí lãi vay, chi trả cổ tức, mua lại cổ phiếu. Sự chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và cầu thanh khoản tại một thời điểm được gọi là trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản 1.
Các quan điểm về rủi ro thanh khoản RRTK có nhiều định nghĩa nhưng định nghĩa phổ biến nhất là xác suất mà một công ty sẽ không thể thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn của mình khi chúng đến hạn. Sự bất lực này có thể khiến một công ty phải đối mặt với các vấn đề tài chính nghiêm trọng. Ngoài ra, RRTK cũng có thể được xác định theo đối tác của giao dịch. Theo nghĩa này, RRTK có nghĩa là rủi ro tiềm ẩn khi đối tác không thể thanh toán hoặc giải quyết giao dịch ngay cả khi họ có tình trạng tài chính tốt do thiếu dòng tiền (Pereira và Pereira, 2018).
Đối với các NHTM, thanh khoản là chức năng cổ điển nhất, là điều kiện đầu tiên của việc thành lập cũng như điều kiện tiên quyết để giữ cho ngân hàng hoạt động trôi chảy. NHTM luôn phải đáp ứng tức thời mọi nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng theo cam kết. Khi các NHTM không có khả năng hoặc hạn chế về khả năng chi trả dòng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời, hoặc phải cung ứng 5 nhưng với chi phí tăng lên cao thì RRTK ngân hàng xuất hiện. RRTK được định nghĩa là tình huống khi một ngân hàng không thể đáp ứng toàn bộ hoặc một phần yêu cầu của người gửi tiền trong một khoảng thời gian nhất định (Jenkinson, 2008).
Ngoài ra, nó có thể được định nghĩa là việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nhu cầu tài chính ngắn hạn. RRTK không chỉ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn là uy tín của ngân hàng. Thiếu thanh khoản gây xói mòn niềm tin của người gửi tiền, đe dọa sự ổn định của ngân hàng, thậm chí dẫn đến nguy cơ sụp đổ của ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung. Ngoài ra, các NHTM còn phải đối mặt với RRTK theo một cách khác, dự trữ tiền mặt của họ có thể bị căng thẳng khi họ thực hiện các nghĩa vụ đối với các khách hàng doanh nghiệp, cụ thể là giải ngân theo hạn mức tín dụng đã thỏa thuận hoặc thực hiện các cam kết cho vay (Gatev và các cộng sự, 2007).
Bên cạnh đó, RRTK được tiếp cận theo các quan điểm khác nhau. Xét về khía cạnh khả năng đáp ứng nghĩa vụ của NHTM, Jenkinson (2008) cho rằng "RRTK của NHTM là rủi ro phát sinh từ sự mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn qua đó gây tổn thất đến tình hình tài chính của một ngân hàng." Về khía cạnh khả năng gia tăng nguồn vốn, Ủy ban Basel về quản lý ngân hàng (BCBS, 2004) định nghĩa: “RRTK xuất phát từ việc ngân hàng không có khả năng gia tăng các khoản mục nguồn vốn để tài trợ cho việc gia tăng tài sản ngân hàng”. Còn theo Chaplin (2000), “RRTK là khả năng gây thiệt hại cho ngân hàng liên quan đến việc chuyển các tài sản tài chính thành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu thất thoát về giá cả.” Vì vậy, RRTK có thể được định nghĩa là “nguy cơ NHTM mất khả năng thanh toán một nghĩa vụ nợ nào đó một cách kịp thời ở một mức giá hợp lý” (Muranaga và Ohsawa, 2002). Tóm lại, dù đứng dưới góc độ nào, RRTK có thể hiểu là rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh toán tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao.
Phân loại rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản thị trường RRTK thị trường được hiểu là việc ngân hàng không thể thực hiện các giao dịch ở mức giá hợp lý ngay lập tức. Rủi ro này được đề cập trong lý thuyết về sự liên thông về RRTK trên các thị trường (Brunnemeier và Pedersen, 2005 và 2007), nó mang tính chất hệ thống, và không thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa, Sau đó bằng 6 nghiên cứu thực nghiệm. Chordia và cộng sự, 2005 đã chỉ ra mối liên hệ về RRTK giữa thị trường cố phiếu, trái phiếu và thị trường vốn. Các cơ chế lan truyền sâu rộng hơn cũng có thể tìm thấy giữa thị trường tài sản đến thị trường liên ngân hàng.
RRTK thị trường trong hầu hết các trường hợp là thấp và ổn định, trường hợp tăng cao là rất hiếm và chỉ trong giai đoạn rất ngắn (Pastor và Staumbaugh, 2003). Bản chất từng đợt có thể là kết quả của vòng xoáy thanh khoản đi xuống do tài trợ tăng cường lẫn nhau và tính thanh khoản của thị trường (Brunnemeier và Pedersen, 2005 và 2007) và rất hiếm vì lợi ích từ hợp tác trong giao dịch (Carlin và các cộng sự, 2007). Brusco và Castiglinesi (2007) lập luận thêm rằng các liên kết tài chính chỉ được thiết lập khi lợi ích lớn hơn chi phí, tức là khi khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính bị hạn chế. Do đó, khủng hoảng và lây lan tài chính là những sự kiện hiếm khi xảy ra.
Cuối cùng, tác động của RRTK thị trường (hệ thống) là quan trọng trên quan điểm ổn định tài chính. Trên thực tế, RRTK riêng lẻ (dẫn đến sự thất bại của một hoặc một số ngân hàng) có thể không phải là điều tồi tệ, thậm chí nó còn có thể là một cơ chế hữu ích để khôi phục tình trạng tài chính trong một số bộ phận của hệ thống (Diamond và Dybvig, 1983; Allen và các cộng sự, 2009). Tuy nhiên, RRTK hệ thống (thị trường) có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho toàn bộ hệ thống tài chính. Đáng chú ý, nó có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính, gây tổn hại đến sự ổn định tài chính, làm gián đoạn việc phân bổ nguồn lực và cuối cùng, ảnh hưởng đến nền kinh tế thực (Hoggarth và Saporta, 2002; Ferguson và các cộng sự, 2007).
Do tầm quan trọng của RRTK thị trường (tức là rủi ro hệ thống) đối với sự ổn định tài chính, nó cần được các nhà hoạch định chính sách đưa ra cảnh báo ngay lập tức. Tuy nhiên, do sự liên kết chặt chẽ giữa các loại thanh khoản khác nhau, cần có một cái nhìn tổng quát về thanh khoản trong hệ thống để xem xét RRTK của thị trường.