CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ 1. Tổng quan thị trường chứng khoán 1. Khái niệm Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua - bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Một thị trường chứng khoán thường được tổ chức một cách chuyên nghiệp, cung cấp các tiện ích hiện đại để các công ty phát hành chứng khoán và để các nhà đầu tư giao dịch các chứng khoán đó với nhau.
Tất cả các hoạt động được diễn ra trong một không gian được quản lý nhằm mục đích làm cho mọi thứ trở nên hiệu quả và minh bạch nhất có thể. Để nhận diện các bộ phận cấu thành thị trường cho nhiều mục đích khác nhau, người ta phân loại thị trường chứng khoán gồm: Thị trường sơ cấp (nơi cổ phiếu lần đầu phát hành) và Thị trường thứ cấp (cổ phiếu được mua bán lại sau khi phát hành). Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Người ta thực hiện các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán vì đa dạng các mục đích bao gồm: huy động vốn (đối với tổ chức phát hành); thay đổi tỷ lệ sở hữu vốn chủ tại một tổ chức hoặc kiếm lời (đối với các nhà đầu tư).
Mô hình đơn giản của thị trường bao gồm chủ thể thiết lập thị trường là sở giao dịch, nhà đầu tư và các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ mở tài khoản, chuyển lệnh mua-bán chứng khoán của nhà đầu tư tới sàn giao dịch để khớp lệnh giao dịch theo các quy tắc đã được định sẵn. Một thị trường chứng khoán hiện đại cho phép các giao dịch chứng khoán được thực hiện trực tuyến trên nền tảng giao dịch điện tử được quản lý bởi sở giao dịch chứng khoán và sự tham gia của các công ty chứng khoán thành viên. Theo quy định tại khoản 27 thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. Hàng hóa được giao dịch trên thị trường là các loại chứng khoán.
Luật Chứng khoán Việt Nam 2019 quy định: “Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau 7 đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; c) Chứng khoán phái sinh; d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định”. Các hoạt động kinh tế hiện đại đang chứng kiến sự ra đời của ngày một nhiều hơn các hình thức phức tạp của chứng khoán. Ngoài các loại chứng khoán được niêm yết trên sàn chứng khoán, các loại cổ phiếu giao dịch không công khai như chia cổ phần thông qua việc gọi vốn cộng đồng cũng trở thành một hình thức ngày càng phổ biến. Tùy thuộc sự lựa chọn của người tạo lập thị trường, các loại chứng khoán sẽ được giao dịch trên các sở giao dịch chứng khoán là khác nhau.
Đã có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, tuy nhiên các khái niệm hầu hết đều phản ánh những góc nhìn tương đồng. Một cách khái quát, có thể định nghĩa về thị trường chứng khoán như sau: “Thị trường chứng khoán là một thị trường vốn nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán của chính phủ, các tổ chức và các doanh nghiệp. Vai trò của thị trường chứng khoán Chứng khoán - hàng hóa được giao dịch trên thị trường là loại hàng hóa đặc biệt, đáp ứng đa dạng các mục đích của nhiều chủ thể, thể hiện thông qua: Vai trò đầu tiên của thị trường chứng khoán là huy động vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế Mang bản chất của một thị trường vốn, đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn của Chính phủ và các doanh nghiệp, thị trường chứng khoán góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế hiện đại. So sánh với các kênh huy động vốn khác, thị trường chứng khoán có các ưu điểm: - Tính chuyên nghiệp của các tổ chức tham gia trên thị trường với sự hiện diện của các công ty chứng khoán, ngân hàng giám sát và sự quản lý của các sở giao dịch là người tổ chức ra thị trường; - Tính minh bạch như là điều kiện ban đầu phải đáp ứng với các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành tham gia thị trường để trên cơ sở đó, các báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh, hồ sơ doanh nghiệp được đánh giá khách quan bởi các chủ thể quản lý thị trường; 8 - Tính công khai như một đòi hỏi khác đối với tổ chức tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường phải minh thị các thay đổi trong hoạt động của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; - Tính trực tiếp trong quan hệ đầu tư – tiếp nhận vốn đầu tư giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp, cho phép nhà đầu tư quyết định lựa chọn sở hữu các chứng khoán của tổ chức phát hành.
Chính những đặc tính trên đã làm cho thị trường chứng khoán trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, góp phần vào việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả trong nền kinh tế. Các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng có cơ hội được trao vào tay của Chính phủ và các nhà kinh doanh, đem lại động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, khi doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư thông qua các biện pháp tiền kiểm được thực hiện bởi chủ thể quản lý và vận hành sàn giao dịch. Như vậy các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp doanh nghiệp tạo vốn nhanh chóng hơn một khi chứng khoán đã được niêm yết thành công.
Sự tồn tại và vận hành của thị trường chứng khoán làm đa dạng hóa kênh đầu tư. Thị trường chứng khoán cung cấp nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng để công chúng có thể lựa chọn loại và đầu tư vào hàng hoá phù hợp với khả năng. Bên cạnh việc thị trường chứng khoán thu hút nguồn vốn từ dân chúng, thị trường còn tạo kênh dẫn nguồn vốn từ nước ngoài cho các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Nếu như các hoạt động đầu tư trực tiếp dòng vốn đầu tư từ nước ngoài phải thực hiện thông qua các trình tự thủ tục của Luật Đầu tư, dòng vốn được quản lý thông qua các tài khoản ngân hàng.
Việc vận hành thị trường chứng khoán còn đem lại những tác dụng tích cực khác cho nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ tránh được những áp lực tìm kiếm nguồn vốn cũng như hỗ trợ các ngành, các lĩnh vực tại từng thời điểm, tránh được các áp lực về lạm phát. Ngoài ra, thị trường chứng khoán đóng vai trò hỗ trợ tốt công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với hệ thống tín dụng của ngân hàng tạo nên cơ cấu thị trường vốn cân đối, hiệu quả cho sự phát triển của nền kinh tế. 9 Thứ hai, tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán được giao dịch trên thị trường Thị trường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản cao cho chứng khoán được giao dịch trên thị trường và những giá trị mà chúng đại diện bao gồm vốn cổ phần và vốn nợ.
Thị trường chứng khoán giúp cho việc tập trung, phân phối vối và chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế. Sàn giao dịch chứng khoán giúp các công ty mới huy động vốn đồng thời cung cấp khả năng tiếp cận ngay lập tức cho các nhà đầu tư. Tính thanh khoản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các chủ thể tham gia thị trường mà trực tiếp nhất là tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Tính thanh khoản đại diện cho khả năng dễ dàng được giao dịch trên thị trường của các loại chứng khoán.
Xuất phát từ những đặc điểm của tính minh bạch và sự đảm bảo của các thiết chế quản lý, hàng hóa trên thị trường là những hàng hóa có thể được xem là chất lượng. Do đó, nhà đầu tư có thêm niềm tin để thực hiện giao dịch. Bên cạnh đó, quy chế giao dịch cho phép người ta tin tưởng rằng tại mọi thời điểm, không có hạn chế áp dụng cản trở việc chuyển giao/chuyển nhượng trong tương lai cho phép nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn để nắm giữ quyền sở hữu chứng khoán. Các tác động tổng hợp của thị trường chứng khoán cho phép dòng vốn được lưu thông thông suốt trên thị trường, giữa các nhà đầu tư, làm nên tính thanh khoản cho hàng hóa được giao dịch.
Thứ tư, thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá doanh nghiệp, minh bạch giá trị chứng khoán được giao dịch Các sàn giao dịch chứng khoán phải đảm bảo rằng người mua và người bán có quyền truy cập vào thông tin đặt giá và giá cả chính xác, cập nhật để đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt. Việc tổ chức vận hành và quản lý thị trường chặt chẽ đóng vai trò chính trong việc cung cấp giá chứng khoán công bằng và minh bạch, đồng thời kết nối người mua và người bán một cách hiệu quả. Tính minh bạch về giá rất quan trọng vì biết những gì người khác đang đặt giá, yêu cầu và giao dịch có thể giúp xác định cung và cầu của chứng khoán, hàng hóa hoặc dịch vụ, tức là giá trị thực của nó. Nếu thông tin được chứng minh là không đủ hoặc không thể truy cập được, thì thị trường cụ thể đó có thể được coi là không hiệu 10 quả.
Trong kinh tế học, tính minh bạch của thị trường được xác định bởi mức độ được biết đến về sản phẩm và dịch vụ cũng như tài sản vốn sẵn có, cũng như cơ cấu giá cả và nơi có thể tìm thấy chúng. Mức độ tự do của thị trường đó và mức độ hiệu quả của nó có thể được xác định bởi tính minh bạch của nó. Minh bạch giá không nhất thiết có nghĩa là giá sẽ giảm. Giá cao hơn có thể dẫn đến nếu người bán trở nên miễn cưỡng cung cấp cho người mua nhất định.
Tính minh bạch về giá cũng có thể tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sự thông đồng, hoặc thỏa thuận bí mật phi cạnh tranh hoặc đôi khi là bất hợp pháp giữa các đối thủ nhằm phá vỡ trạng thái cân bằng của thị trường. Sự biến động về giá hoặc tốc độ tăng hoặc giảm của chứng khoán, hàng hóa hoặc dịch vụ cũng có thể là sản phẩm phụ của tính minh bạch.