CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN Công bố thông tin là việc phổ biến toàn bộ thông tin của doanh nghiệp liên quan đến hoạt động trong quá khứ, những dự báo cho tương lai, hoạt động hiện tại và nhiều thông tin khác mà nhà đầu tư có thể yêu cầu. Cụ thể hơn, công bố thông tin kế toán là việc công khai toàn bộ thông tin về tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính trong một thời kỳ nhất định. Công bố thông tin nhằm phục vụ cho cơ quan thuế, cơ quan thống kê, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các chủ nợ…và đặc biệt là các nhà đầu tư.
Công bố thông tin bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (Madatory disclosures): là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ. Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, Các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP [9] và Các Chuẩn mực kế toán. Các thông tin doanh nghiệp phải trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh BCTC được quy định trong hệ thống BCTC của Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, đã sửa đổi bổ sung theo thông tư 244/2009/TT-BTC.
Công bố tự nguyện (Voluntary disclosures): là sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc. Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải Luan van 8 công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. (2008) [43], công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức, … đó là các thông tin được cung cấp thêm trong Thuyết minh BCTC ngoài các thông tin bắt buộc căn cứ vào các chuẩn mực kế toán có liên quan. NGUỒN CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN TTCK Hệ thống thông tin của TTCK là những chỉ tiêu, tư liệu phản ánh bức tranh của TTCK và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội liên quan tại những thời điểm hoặc thời kỳ khác nhau.
Hệ thống thông tin của TTCK rất đa dạng, phong phú và có nhiều cách thức khác nhau để phân loại nguồn thông tin trên TTCK. Thông tin trên TTCK rất đa dạng, do nhiều chủ thể khác nhau công bố. Mỗi loại thông tin do các chủ thể công bố có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau. Thông tin từ tổ chức niêm yết Đây là nguồn thông tin cơ bản, quan trọng nhất đối với TTCK.
Thông tin của tổ chức niêm yết có những ưu điểm cơ bản sau đây: -Những thông tin này phản ánh chính xác diễn biến tình hình hoạt động của tổ chức niêm yết, nhất là các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của tổ chức này. -Thông tin của tổ chức niêm yết rõ ràng, chi tiết và có độ tin cậy cao. -Thông tin của tổ chức niêm yết có thể cập nhật nhanh các diễn biến của tổ chức niêm yết, nhất là các diễn biến liên quan đến hoạt động của tổ chức này. Tuy nhiên, nguồn thông tin từ tổ chức niêm yết có hạn chế là: - Nhà đầu tư khó tiếp cận được ngay các thông tin - Dễ làm lộ bí mật kinh doanh của tổ chức niêm yết Luan van 9 - Nhà quản trị thường lạm dụng quyền của mình để cản trở việc công bố thông tin ra các phương tiện thông tin đại chúng.
Thông tin từ tổ chức kinh doanh chứng khoán Ưu điểm của thông tin do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung cấp là: - Giúp cho những người có liên quan thấy được diễn biến trên TTCK qua các giai đoạn, phục vụ tốt cho việc quản lý, phân tích đánh giá và đầu tư chứng khoán. - Thông tin do các tổ chức này cung cấp có tính hệ thống, logic và có thể tiếp cận theo từng nội dung mà mình quan tâm, và trong những trường hợp cần thiết có thể được cung cấp dịch vụ tư vấn theo yêu cầu. - Thông qua hệ thống thông tin của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, chúng ta có thể thấy được số lượng nhà đầu tư tham gia kinh doanh chứng khoán và tình hình thực hiện các GDCK. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà quản lý nhằm kiểm soát các giao dịch của các chủ thể tham gia TTCK.
Mặc dù vậy, thông tin của tổ chức kinh doanh chứng khoán có hạn chế là: - Việc cung cấp thông tin bị chi phối bởi yếu tố lợi ích là rất lớn. Nếu cung cấp thông tin đầy đủ thì có nguy cơ xâm phạm đến quyền lợi của nhà đầu tư và quyền lợi khách hàng. - Yêu cầu giữ bí mật về các thông tin liên đến nhà đầu tư (trừ các thông tin phải công bố theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên các tổ chức này thường rất thận trọng trong việc công bố thông tin, nhất là các thông tin về khối lượng giao dịch của khách hàng. Thông tin từ thực tiễn giao dịch trên thị trường Các thông tin này theo sát diễn biến hoạt động của thị trường, đây là nguồn đáng tin cậy cho các nhà đầu tư chứng khoán.
Các công ty niêm yết trước khi được niêm yết trên Trung tâm/Sở GDCK phải đáp ứng các điều kiện về minh Luan van 10 bạch thông tin và như vậy Trung tâm/Sở GDCK có thể phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm chế độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK. Thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK Thông tin từ phía cơ quản quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK thường là các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, pháp luật trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với yêu cầu của thị trường. Đây là các thông tin chuẩn có tác động rất lớn đến việc điều chỉnh diễn biến thị trường và hoạt động đầu tư của các chủ thể. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1.1 Yêu cầu công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết Theo thông tư số 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài Chính: “Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên TTCK” có các quy định điều về yêu cầu thực hiện công bố thông tin như sau: -Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật.
-Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ về thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố. +Trường hợp thực hiện công bố thông tin thông qua người được ủy quyền công bố thông tin, công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải đăng ký 1 người được uỷ quyền thực hiện công bố thông tin. Trường hợp thay đổi người được uỷ quyền công bố thông tin phải thông báo bằng văn bản cho UBCKNN, Sở GDCK ít nhất 5 ngày làm việc trước khi có sự thay đổi.
+Trường hợp có bất kỳ thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ Luan van 11 quyền công bố thông tin phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được thông tin đó hoặc theo yêu cầu của UBCKNN, Sở GDCK. -Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN, Sở GDCK về nội dung thông tin công bố, cụ thể như sau: + Công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo UBCKNN. + Sở GDCK, TTLKCK khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo UBCKNN đối với những thông tin phát sinh từ Sở GDCK, TTLKCK + Tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán thành viên, công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng dạng đóng và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng khi thực hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo UBCKNN, Sở GDCK. + Công ty quản lý quỹ có trách nhiệm công bố thông tin về hoạt động của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do mình quản lý theo quy định của pháp luật có liên quan.
Trường hợp công ty quản lý quỹ là công ty đại chúng thì phải thực hiện trách nhiệm công bố thông tin áp dụng cho công ty đại chúng. Ngày công bố thông tin là ngày thông tin xuất hiện trên phương tiện công bố thông tin, ngày báo cáo về việc công bố thông tin là ngày gửi fax, gửi dữ liệu điện tử (qua email hoặc qua hệ thống công nghệ thông tin tiếp nhận báo cáo), ngày UBCKNN, Sở GDCK nhận được thông tin công bố bằng văn bản. Ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin trên TTCK Việt Nam phải là tiếng Việt. Trường hợp pháp luật quy định công bố thông tin bổ sung bằng ngôn ngữ khác, ngôn ngữ thực hiện công bố thông tin bao gồm tiếng Việt và ngôn ngữ khác theo quy định.
Luan van 12 Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, các đối tượng công bố thông tin theo quy định tại Điều 1 Thông tư 52/2012/TT-BTC phải đồng thời báo cáo và có văn bản giải trình cho UBCKNN, Sở GDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch). Các đối tượng công bố thông tin thực hiện bảo quản, lưu giữ thông tin đã báo cáo, công bố theo quy định của pháp luật.