phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Chƣơng 2: Đặc điểm cấu trúc vốn và các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Dƣợc phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách 6. Tổng quan tài liệu nghiện cứu. "Các lý thuyết kinh điển về cấu trúc vốn của doanh nghiệp" Từ khi lý thuyết của Modigliani và Miller (1958, 1963) ra đời đã có những đóng góp vào mục đích giải thích các quyết định tài trợ của các nhà quản lý. Trong khoảng thời gian không xa lý thuyết cân đối đã đƣợc hình thành (1976), và sau đó lý thuyết trật tự phân hạng của Myer ra đời (1984) để giải thích sự lựa chọn cấu trúc vốn.
Sau khi Modigliani và Miller kết luận sự không phù hợp dƣới các giả định nghiêm ngặt, các lý thuyết đến sau đƣợc đƣa vào để giải thích sự lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty. "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh Luan van 4 nghiệp niêm yết Trung Quốc". Mẫu nghiên cứu bao gồm 1.230 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồng Kông từ năm 2005 - 2010. Hồi quy theo phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất (OLS).
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có năm biến độc lập có ý nghĩa về mặt thống kê bao gồm: quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, rủi ro kinh doanh và tắm chắn thuế. Khả năng sinh lời Rủi ro kinh doanh, tấm chắn thuế và tính thanh khoản có tƣơng quan thuận với đòn bẩy tài chính. Còn quy mô doanh nghiệp có quan hệ nghịch với đòn bẩy tài chính. Cơ hội tăng trƣởng và tài sản hữu hình không có ý nghĩa thống kê.
" Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết Ai Cập" tác giả Mary Hany A. Dawood và công sự (2011). Đề tài nghiên cứu 37 doanh nghiệp phi tài chính năm 1999 - 2007. Hồi quy theo phƣơng pháp tác động ngẫu nhiên (GLS) và phƣơng pháp phân tích phƣơng sai ANOVA nhằm xác định nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc doanh nghiệp nghiên cứu.
Kết quả cho thấy khả năng sinh lời, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh có quan hệ ngƣợc chiền đòn bẩy tài chính, trong khi đó quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ tăng trƣởng có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính. Ngoài ra, ngành công nghiệp cũng ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn, cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc các nghành khác nhau sẽ có sự khác biệt do ảnh hƣởng của đặc điểm từng ngành. Nhìn chung, có bằng chứng cho thấy rằng các doánh nghiệp niêm yết ở Ai Cập có khuynh hƣớng xây dựng cấu trúc vốn phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng. " Phân tích nhân tố ảnh hưởng cấu trúc vốn của các công ty Dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" của tác giả Lê Thị Kim Thƣ (2012), tác giả sử dụng số liệu của 13 công ty ngành Dƣợc phẩm niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong 5 năm 20007 -2011.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 biến có mối qua hệ tƣơng quan với đòn bẩy tài Luan van 5 chính bao gồm: Khả năng sinh lời, cấu trúc tài sản, quy mô doanh nghiệp, tăng trƣởng doanh nghiệp, hiệu quả họat động, đặc điểm riêng của sản phẩm, tỷ lệ vốn sở hữu Nhà nƣớc. Tác giả nghiên cứu đƣợc biến tăng trƣởng của doanh nghiệp có quan hệ tỷ lệ thuận với tỷ số nợ. Biến quy mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, đặc điểm riêng tài sản có quan hệ nghịch với tỷ suất nợ. Biến rủi ro kinh doanh, câu trúc tài sản, tỷ lệ sở hữu không ảnh hƣởng đến tỷ suất nợ.
Tuy nhiên đề tài còn vài hạn chế: Đề tài phân tích số liệu trong 5 năm 2007-2011 nên độ dài thời gian chƣa đủ lớn để đánh giá xu thế phát triển của doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu phân tích. Bên cạnh đó, do mẫu nghiên cứu chỉ hạn chế ở 13 công ty nên kết quả nghiên cứu chỉ chính xác ở một chừng mực nhất định. "Nghiên cứu cấu trúc vốn của các công ty ngành Dược phẩm giai đoạn 2006 - 2011 và giải pháp lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý." của tác giả Phạm Khánh Dƣơng. Tác giả cho thấy có bốn yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn: Tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động, tài sản hữu hình và thuế đều tác động ngƣợc chiều đến cấu trúc vốn.
Trong đó tính thanh khoản ảnh hƣởng quan trọng nhất. Quy mô doanh nghiệp và đặc điểm riêng sản phẩm không có ý nghĩa nhiều về mặt thống kê. Hạn chế đề tài hạn chế về thu thập số liệu nên không thể đƣa hết các nhân tố vào mô hình để đánh giá đặc biệt là nhân tố thuộc về yếu tố môi trƣờng. “Phân tích các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Trâm (2010) dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.
Nguyễn Thị Ngọc Trang, tác giả sử dụng số liệu của 177 doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong 04 năm từ 2005-2008 và không bao gồm các định chế tài chính nhƣ ngân hàng, công ty bảo hiểm hay các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tƣ. Bằng phƣơng pháp ƣớc lƣợng Luan van 6 OLS, tác giả đã xác định sự ảnh hƣởng của 10 nhân tố đến cấu trúc vốn của 177 công ty là đòn bẩy hoạt động (FA), tốc độ tăng trƣởng (GRO), tính thanh khoản (LIQ), tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA), quy mô doanh nghiệp (SIZE), vốn nhà nƣớc (STATE), tỷ trọng tài sản hữu hình (TANG), thuế suất biên tế (TAX), đặc điểm riêng của sản phẩm (UNI) và rủi ro kinh doanh (VOL) đến tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (LEV), tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STD) và tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTD). Và kết quả hồi quy cho thấy, có 08 nhân tố tác động đến tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp (có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và 5%). Hai biến còn lại là tốc độ tăng trƣởng của doanh nghiệp và rủi ro kinh doanh không gây tác động đến đòn bẩy tài chính.[10] Tổng hợp các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả không khắc phục hiện tƣợng đa cộng tuyến mà giữ nguyên các biến khi chạy mô hình hồi quy dù một số cặp biến có tƣơng quan khá lớn.
Điều này làm hạn chế sự chính xác của mức độ ảnh hƣởng của các biến giải thích đến tỷ suất nợ. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, cấu trúc vốn của các công ty có thể bị ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố khác nhau nhƣ quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, hiệu quả kinh doanh, cơ cấu sở hữu, thuế, ngành nghề kinh doanh,…. Đây là cơ sở cho nghiên cứu của tác giả trong đề tài này. Nhìn chung, đa số các nghiên cứu kể trên đều chỉ ra những điểm chung cho tất cả các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, mỗi ngành đều có những đặc thù Luan van 7 riêng, cấu trúc vốn đặc trƣng riêng. Trong đề tài này tác giả đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu của những tác giả trƣớc đó để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty ngành Dƣợc phẩm. Dữ liệu đƣợc thu thập có đặc điểm chung là không tuân theo quy luật phân phối chuẩn. Do đó, trong đề tài sẽ trình bày rõ ràng phƣơng pháp chứng minh dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn dựa vào thủ tục Explore trong phần mềm SPSS 19.0 và xử lý số liệu không theo phân phối chuẩn bằng cách dùng phƣơng pháp lấy logarit cơ số 10, đồng thời, sẽ khắc phục hiện hƣợng đa cộng tuyến để kết quả nghiên cứu không bị lệch và chính xác hơn.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 1. Khái niệm và các thành phần cấu trúc vốn a. Khái niệm cấu trúc vốn: Khái niệm cấu trúc trong nghĩa chung nhất là đề cập đến các bộ phận cấu thành và mối liên hệ của chúng trong tổng thể, quá trình vận động và sự tƣơng tác giữa các bộ phận cấu thành quy định bản chất của tổng thể đó.
Đề cập đến bộ phận cấu thành của tổng thể là đề cập đến vai trò, chức năng của nó trong tổng thể, thể hiện qua tính chất và mức độ tác động của bộ phận đến tổng thể. Vốn trong một doanh nghiệp thể hiện nguồn lực tài chính bên trong của doanh nghiệp bao gồm vốn góp từ chủ sở hữu, từ nguồn lợi nhuận hoạt động để lại của doanh nghiệp và các nguồn lực bên ngoài từ các nhà đầu tƣ bên ngoài có thể là nhà nƣớc, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng,…), các nhà đầu tƣ tƣ nhân,… Trong các tài liệu liên quan đến vốn tác giả thƣờng đề cập đến thuật ngữ cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính. Thuật ngữ cấu trúc tài chính đƣợc sử dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế ngƣời Pháp, còn các nhà kinh tế ngƣời Mỹ thƣờng sử dụng thuật ngữ cấu trúc vốn. Một số quan điểm gần nhƣ đồng nhất hai khái niệm này nhƣng cũng có một số quan điểm thể hiện sự không đồng nhất.Dubois một giáo sƣ chuyên nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp của đại học Pierre Mendes France: “Cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn đƣợc sử dụng bởi doanh nghiệp, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ”.
Luan van 9 Theo S.Myers: “Cấu trúc tài chính là một khái niệm đƣợc dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình”.Albouy một trong những giáo sƣ hàng đầu của Pháp: “Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp đƣợc hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu đƣợc tính từ bảng cân đối kế toán”. Hay hiểu một cách chung nhất, cấu trúc tài chính là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu đƣợc tính từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.