MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ xa xưa khi con người xuất hiện và phát triển, con người đã biết khai thác các nguồn lợi của tự nhiên thông qua các hoạt động săn bắt hái lượm để phục vụ cho nhu cầu tồn tại của mình, trải qua quá trình lịch sử càng phát triển con người đã tự trồng trọt, chăn nuôi sản xuất ra nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của mình. Khi khoa học ngày càng phát triển đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm cho lĩnh vực sản xuất sinh học phát triển một cách nhanh chóng, loài người đã tạo ra nhiều giống vật nuôi và cây trồng phục vụ cho sản xuất và nhu cầu của mình. Đặc biệt trong lĩnh vực chăn nuôi ở các loài gia cầm, rất nhiều giống chất lượng tốt đã được đưa vào để phục vụ cho nhu cầu thịt, trứng cũng như nhu cầu khác.
Tuy nhiên nhu cầu của con người là vô hạn, và cũng rất đa dạng, không chỉ là các món ăn được tạo ra từ sản xuất được mà con người còn hướng tới các nguồn thực phẩm từ tự nhiên, cũng như nhu cầu nuôi chim làm cảnh và các hoạt động giải trí khác từ những loài chim hoang dã. Chính những nhu cầu đó đã biến những loài chim hoang dã trở thành những nạn nhận, trong số đó có rất nhiều loài thuộc dạng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Huyện Thiệu Hóa là huyện đồng bằng tiếp giáp nhiều huyện trong tỉnh phía đông giáp huyện Hoằng Hóa và Thành phố Thanh Hóa, phía Nam giáp Huyện Đông sơn và huyện Triệu Sơn, phía tây Bắc giáp huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn và phía bắc giáp huyện Yên Định. Huyện Thiệu Hóa có 25 đơn vị hành chính diện tích khoảng 160,68 km2 dân số năm 2018 khoảng 183.
Hệ sinh thái chủ yếu của huyện Thiệu Hóa là nông nghiệp với diện tích canh tác nhỏ hẹp. Với diện tích trải dài theo hai con sông lớn của tỉnh là sông Chu và sông Mã, ngoài ra còn có nhiều con sông tự nhiên và nhân tạo khác điều đó làm cho Huyện Thiệu Hóa có nhiều thuận lợi về các điều kiện sinh 1 thái, điều kiện địa chất ổn định thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài chim bản địa sinh sống, cũng như các loài chim di cư theo mùa có thể sinh sống trong thời gian ngắn cư trú do nguồn thức ăn phong phú dồi dào. Thọ Xuân là một huyện của tỉnh Thanh Hóa. Nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa.
Phía Bắc, Tây Bắc giáp huyện Ngọc Lặc, một phần huyện Cẩm Thủy; phía Nam giáp huyện Triệu Sơn, phía Tây giáp huyện Thường Xuân, phía Đông – Đông Bắc giáp huyện Yên Định, phía Đông – Đông Nam giáp huyện Thiệu Hóa. Thọ Xuân là một huyện lớn của tỉnh Thanh hóa có diện tích tự nhiên gần 30.000 ha, diện tích đất nông nghiệp là hơn 19.000 ha,chiếm hơn 65% diện tích tự nhiên toàn huyện. Dân số toàn huyện là hơn 194.Trên địa bàn huyện có sông Chu chảy theo hướng từ Tây sang Đông, là một trong những con sông lớn của tỉnh chảy từ đầu đến cuối huyện. Huyện Thọ Xuân là huyện đồng bằng nối với trung du với miền núi, nó được chia thành hai dạng địa hình là: đồng bằng rộng lớn vàtrung du đồi núi thấp.
Địa hình của Thọ Xuân theo kiểu nghiêng dần từ Tây Bắc xuống đông nam. Địa hình của Thọ xuân không đến nỗi đa dạng,phức tạp như những vùng núi cao khác. Do tiếp nối phía tây Thanh Hóa lại thuộc vùng châu thổ sông Chu – sông Mã và có sự khác biệt giữa hai vùng địa lý cụ thể: + Vùng đồng bằng: trải ở hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Chu cao trình phân bố từ 6m đến 17m, diện tích gần 50% diện tích tự nhiên của huyện, Nếu nhưng vùng trung du có những đồi núi thấp lượn sóng như bát úp chia cắt thành những cánh đồng có bình độ khác nhau, vì thế tạo ra những vùng lòng chảo cục bộ gây ngập úng trong mùa mưa lũ, gây tình trạng rửa trôi, xói mòn làm mất độ phì nhiêu của đất. +Vùng bán sơn địa được trải rộng từ tây xuống đông nam, với độ cao trung bình phân bố từ 20 - 150m, chiếm diện tích hơn 50% diện tích đất đai toàn huyện và phân bố thành nhiều vùng nhỏ khác nhau là vùng đồi núi thấp 2 bao quanh phía bắc, phía tây nam.
Với địa hình này là những đồi núi thấp chạy liên tục và nhấp nhô như bát úp, có nhiều chỗ lại bằng phẳng nên thích hợp cho trồng các cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp Mặc dù có những bất cập như vậy nhưng Thọ Xuân vẫn là vùng trọng điểm có năng suất lúa đứng đầu của tỉnh Thanh Hóa. Việc phân hóa địa hình như vậy cũng là những đều kiện cho các loài động vật có thể sinh trưởng và phát triển trong đó có những loài chim sinh sống, định cư, di cư. Mặc dù hai huyện Thiệu Hóa và Thọ Xuân có vị trí địa lí khác nhau nhưng cũng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện địa chất khí hậu và có sự khác biệt phần nào về điều kiện địa lí khí hậu giữa hai huyện tạo nên sinh cảnh sống đa dạng. Chính điều đó là nơi sinh sống của rất nhiều loài chim khác nhau.
Với nhiều loài chim như vậy là điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt các loài chim trong khu vực sinh sống của nhiều người dân. Có nhiều phương pháp đánh bắt khác nhau như bẫy lưới, bẫy lồng, bẫy dính… với hiệu quả đánh bắt khác nhau. Trong số các loài đánh bắt được đa số được sử dụng vào mục đích làm thực phẩm bán cho các đầu mối thu mua trong khu vực, điều đó góp phần làm quần thể các loài chim trong tự nhiên ngày một suy giảm. Trước những vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các loài chim bị săn bắt trên địa bàn huyện Thiệu Hóa và Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được tính đa dạng vàtình trạng săn bắt các loài chim trên địa bàn huyện Thiệu Hóa và Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần loài chim bị săn bắt ở KVNC; - Nghiên cứu thành phần và sự biến đổi của các loài chim bị săn bắt theo mùa; 3 - Xác định hiện trạng các loài: đánh giá số lượng cá thể của các loài chim bị săn bắt; giá trị của các loài chim bị săn bắt; tình hình buôn bán các loài; các loài chim quý, hiếm, có giá trị bảo tồn bị săn bắt ở khu vực nghiên cứu. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về tình hình nghiên cứu chim ở Thanh Hóa Những nghiên cứu về chim ở Thanh Hóa từ trước tới nay chủ yếu được thực hiện ở các VQG hoặc KBTTN.
Điển hình như các nghiên cứu sau: *Nghiên cứu ở VQG Bến En: Kết quả đợt khảo sát khu hệ động vật có xương năm 1998 tại Bến En có 195 loài chim thuộc 53 họ và 18 bộ. Báo cáo kết quả dự án điều tranăm 2013, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng đã thống kê được 277 loài chim, ghi nhận thêm 16 loài so với các nghiên cứu trước đây, đồng thời xây dựng bộ mẫu 36 tiêu bản chim [3]. *Nghiên cứu ở KBTTN Xuân Liên: Kết quả nghiên cứu khả thi thành lập KBTTN Xuân Liênnăm 1999 đã công bố 134 loài chim thuộc 30 họ, 12 bộ.Nghiên cứu năm 2011 củatác giả Nguyễn Lân Hùng Sơn và Hoàng Ngọc Hùng về khu hệ chim ở nơi đây có 189 loài thuộc 14 bộ, 53 họ và 132 giống [17]. Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thủy và cộng sự công bố kết quả điều tra khảo sát khu hệ chim Xuân Liênnăm 2015, với 186 loài thuộc 40 họ của 15 bộ, trong đó có 10 loài có giá trị bảo tồn [20].
*Nghiên cứu ở KBTTN Pù Hu: Thực hiện dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng ở KBTTN Pù Hu từ 2012 - 2013 đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên hệ động vật, thực vật; xác định các loài quý, hiếm; các loài có nguy cơ tuyệt chủng cũng như xây dựng vùng phân bố của chúng; xây dựng được hệ thống tiêu bản các loài động, thực vật rừng [1]. Theo kết quả nghiên cứu được Ngô Xuân Nam và Nguyễn Quốc Huy công bố vào năm 2015, có 186 loài chim thuộc 124 giống, 46 họ và 14 bộ. Trong đó 161 loài có tên trong IUCN 2013, SĐVN 2007 và NĐ 32/2006/NĐ-CP; thu được 31 mẫu tiêu bản chim [11]. * Nghiên cứu ở KBTTN Pù Luông: 5 Nghiên cứu của Lê Trọng Trải năm 1997 đã xác định khu hệ chim Pù Luông có 169 loài thuộc 41 họ, 13 bộ [19].
Năm 2013, Dự án điều tra, lập danh lục khu hệ động vật và thực vật rừng ở KBTTN Pù Luông đã ghi nhận sự có 908 loài động vật, trong đó có 117 loài chim. Đồng thời xác định được 93 loài chim có tên trong IUCN 2013; SĐVN 2007 và NĐ 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Quá trình điều tra, nghiên cứu đã thu được 24 mẫu tiêu bản chim [2]. * Kết quả điều tra các loài chim bị săn bắt, buôn bán trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa của Cao Thị Hằng trường THPT Tĩnh Gia 1, Thanh Hóa năm 2019.
Kết quả điều tra từ tháng 10/2018 đến tháng 4/2019 ở 6 điểm buôn bán và các chợ thuộc các xã Ninh Hải, Hải Thượng, Hải Hòa, thị trấn Tĩnh Gia ( huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa) đã ghi nhận được 37 loài chim thuộc 18 họ, 10 bộ, trong đó có 27 loài được sử dụng để nuôi làm cảnh, 11 loài làm thực phẩm, 2 loài làm chim phóng sinh. Các loài bị buôn bán làm cảnh chủ yếu thuộc họ Khướu (Timaliidae), họ Sáo (Turnidae) và họ Ưng (Accipitridae); các loài làm thực phẩm chủ yếu thuộc họ diệc (Ardeidae). Điều đáng chú ý là trong số các loài bị buôn bán ở địa phương, có nhiều loài thuộc danh mục các loài quý, hiếm, có giá trị bảo tồn: Một loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, một loài trong Danh lục Đỏ IUCN, 13 loài trong Phụ lục IIB của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/1/2019 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Nhìn chung, tình hình nghiên cứu chim trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ trước tới nay vẫn còn tương đối ít.