Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO 1. Khái niệm các hình phạt chính không tước tự do Tội phạm và hình phạt có mối quan hệ mật thiết với nhau, là những chế định trọng tâm của luật hình. Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa tội phạm và hình phạt nhìn dưới góc độ triết học chính là mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả, tức là người phạm tội phải chịu hậu quả nhất định do hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện; đó chính là trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Chế định về hình phạt chính là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất của một nhà nước, hay một quốc gia trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về khái niệm pháp lý của hình phạt, lần đầu tiên đã được định nghĩa và quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999, được quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 tại kỳ họp thứ 6, khóa X có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Điều 26 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”. 60] Sau đó, tại Điều 30 của Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đã kế thừa và quy định hình phạt như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Toà án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”.
24] Như vậy, hình phạt đã được nhà nước ta xem là một trong những công cụ pháp lý hiệu quả nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm. Theo Bộ luật hình sự hiện hành, người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thì phải chịu một hoặc một số hình phạt nhất định trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người hoặc pháp nhân thương mại đó đã thực hiện. Tuy nhiên, như từng đề cập 7 trên, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội không chỉ đơn thuần mang tính trừng trị mà còn mang tính giáo dục với mục đích cao nhất là giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội và không tái vi phạm pháp luật hình sự. Đối với từng người phạm tội khác nhau sẽ có hình phạt khác nhau, với nội dung hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích khác nhau, sẽ có khuynh hướng tác động khác nhau.
Đó chính là mục đích của hình phạt. Bộ luật hình sự 1985 tuy chưa đưa ra được khái niệm về hình phạt, nhưng mục đích của hình phạt thì đã được thể hiện tại Điều 20. Trong Bộ luật hình sự 1999 thì cũng có quan điểm về mục đích như Bộ luật hình sự 1985, thể hiện tại Điều 27. Tại Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành thì mục đích của hình phạt cũng tiếp tục được kế thừa, được quy định tại Điều 31 là: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [20, tr.
Tuy nhiên, về nhận thức của một số nhà nghiên cứu thì mục đích của hình phạt vẫn chưa có sự thống nhất. Có nhận thức cho rằng “giáo dục, phòng ngừa mới là mục đích của hình phạt; trừng trị chỉ là tiền đề để đạt được mục đích đó mà thôi”. Trong khi đó, trong một số giáo trình của một số trường đại học thì lại nhận định hình phạt trong luật hình sự có mục đích trừng trị. Trong Giáo trình Luật hình sự phần chung của Trường Đại học Luật Hà Nội nhận định hình phạt có hai mục đích là phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng: “Trong mục đích phòng ngừa riêng, trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới là hai mục đích song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ, chỉ có thể đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu là cải tạo giáo dục người phạm tội nếu hình phạt áp dụng với họ là tương xứng với hành vi phạm tội mà họ gây ra.
Theo nhận định này, trừng trị được xem là mục đích phòng ngừa riêng còn mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phong ngừa và chống tội phạm chính là mục đích phòng ngừa chung. Nhưng luật hình sự Việt Nam không lấy sự trừng trị để nhằm răn đe mà chủ yếu là nhằm làm cho mọi người tin vào sự công minh của 8 pháp luật, khuyến khích họ cùng tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đó mới là nội dung chủ yếu của mục đích phòng ngừa chung của hình phạt. Do hành vi phạm tội là rất đa dạng, cùng với nhiều hoàn cảnh, điều kiện, mức độ phạm tội rất khác nhau nên cần phải có các hình phạt khác nhau nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của hình phạt. Từ cơ sở này, Bộ luật hình sự đã quy định hệ thống hình phạt gồm các hình phạt đối với người phạm tội và các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội; phân chia thành hình phạt chính, hình phạt bổ sung để Tòa án xem xét, cân nhắc áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể.
Hình phạt chính là loại hình phạt được áp dụng chính thức cho người phạm tội và được Tòa án tuyên một cách độc lập; đối với một trường hợp phạm tội cụ thể thì chỉ được áp dụng một hình phạt chính. Hình phạt bổ sung là loại hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ được tuyên kèm với hình phạt chính, đối với một trường hợp cụ thể và có thể không áp dụng, hoặc có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung. Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định đối với người phạm tội thì hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Mặc dù trong Bộ luật hình sự 2015 không quy định khái niệm về “hình phạt tước tự do” và “hình phạt không tước tự do” nhưng có thể căn cứ vào tính chất tước bỏ về tự do thân thể của người phạm tội thì hình phạt còn được chia thành hai nhóm là: hình phạt tước tự do và hình phạt không tước tự do. Thuật ngữ “hình phạt tước tự do” và “hình phạt không tước tự do” chưa được quy định chính thức trong Bộ luật hình sự nhưng đã được thừa nhận và được nhắc đến nhiều trong các tài liệu khoa học pháp lý khác và cũng được nhiều chuyên gia pháp lý và người làm công tác pháp luật sử dụng. Về khái niệm “các hình phạt không tước tự do”, lại có nhiều quan điểm khác nhau về như thế nào là “tước tự do”. Tra cứu từ về “quyền tự do hoặc tự do” trên 9 trang mạng bách khoa toàn thư mở wikipedia, thể hiện: “quyền tự do hoặc tự do là một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình”, nên hình phạt không tước tự do được xem là hình phạt mà không có sự ép buộc, hạn chế nào đối với người phạm tội.
Theo định nghĩa này, các hình phạt cải tạo không giam giữ cũng như hình phạt trục xuất không phải là hình phạt không tước tự do bởi các hình phạt này đã hạn chế quyền tự do cư trú của người phạm tội. Tuy nhiên, quan điểm của một số chuyên gia pháp lý khác lại cho rằng hình phạt không tước tự do là hình phạt không buộc người phạm tội “phải cách ly hoàn toàn khỏi môi trường sống bình thường”; hay nói cách khác, là người phạm tội không phải sống tập trung trong môi trường giam giữ, nhưng họ phải bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích nhất định. Xuất phát từ quan điểm này và trên cơ sở khái niệm chung về hình phạt được quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015 có thể khái niệm các hình phạt chính không tước tự do như sau: Các hình phạt chính không tước tự do là những hình phạt chính nằm trong hệ thống hình phạt, được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhưng không cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội. Từ khái niệm này, đối chiếu với hệ thống hình phạt được quy định tại Điều 32 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì các hình phạt chính không tước tự do bao gồm các hình phạt sau: 1.
Cải tạo không giam giữ 4. Đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do Như trình bày trên, hình phạt tước tự do và hình phạt không tước tự do khác nhau cơ bản ở chỗ hình phạt có cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội hay 10 không mà thôi. Vì vậy có thể kể ra một số dấu hiệu cơ bản của hình phạt chính không tước tự do như sau: - Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội. Cũng bởi bản chất hình phạt chính không tước tự do vẫn là hình phạt nên bản thân nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của hình phạt nói chung.
Ngoài ra nó còn mang một số đặc trưng riêng phản ánh nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam là người phạm tội không bị cách ly khỏi đời sống xã hội nhưng vẫn đảm bảo mục đích của hình phạt.