Luận án tiến sĩ về bong bóng plasma và đặc trưng ion hóa xích đạo khu vực Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bong bóng plasma và đặc trưng dị thường ion hóa xích đạo khu vực việt nam và lân cận, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Chuyên ngành

Vật lý địa cầu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

166
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TẦNG ĐIỆN LY, HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU VÀ NGHIÊN CỨU ĐIỆN LY VÙNG VĨ ĐỘ THẤP SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ GPS

1.1. Khái quát về tầng điện ly

1.2. Nguồn gốc sự hình thành tầng điện ly

1.3. Các lớp điện ly

1.4. Hợp phần ion

1.5. Dị thường ion hóa xích đạo

1.6. Sự chuyển động của các hạt trong lớp F

1.7. Sự trôi dạt E × B

1.8. Bất thường điện ly

1.9. Bong bóng plasma xích đạo

1.10. Lý thuyết tuyến tính bất ổn định Rayleigh-Taylor

1.11. Tổng quan về hệ thống định vị toàn cầu GPS

1.12. Các bộ phận của hệ thống định vị GPS

1.12.1. Bộ phận không gian

1.12.2. Bộ phận điều khiển

1.12.3. Bộ phận sử dụng

1.13. Cấu trúc tín hiệu GPS

1.14. Các đại lượng quan sát của GPS

1.14.1. Giả khoảng cách

1.14.2. Quan sát pha mang (Carrier phase)

1.15. Ảnh hưởng của tầng điện ly tới việc truyền tín hiệu GPS

1.16. Tổng quan tình hình nghiên cứu điện ly vùng vĩ độ thấp sử dụng công nghệ GPS

1.16.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.16.2. Dị thường ion hóa xích đạo

1.16.3. Bất thường điện ly

1.16.4. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Số liệu sử dụng

2.1.1. Số liệu từ các trạm thu GPS

2.1.2. Thông tin vệ tinh

2.1.3. Thông lượng mặt trời F10.7

2.1.4. Chỉ số Dst

2.1.5. El Niño và Dao động Nam (ENSO)

2.1.6. Dao động tựa hai năm (QBO) của tầng bình lưu

2.2. Mô hình điện ly tham chiếu quốc tế IRI

2.3. Mô hình TEC toàn cầu GIMs (CODG)

2.4. Các phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp tính TEC

2.4.2. Chỉ số tốc độ thay đổi TEC

2.4.3. Phương pháp làm hợp đường cong

2.4.4. Xử lý tín hiệu số

2.4.4.1. Bộ lọc thông dải
2.4.4.2. Phép biến đổi wavelet

2.4.5. Phương pháp phân tích biểu đồ chu kỳ Lomb-Scargle

2.4.6. Phương pháp phân tích hàm trực giao thực nghiệm

3. CHƯƠNG 3: DỊ THƯỜNG ION HÓA XÍCH ĐẠO KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

3.1. Biến động ngày đêm của TEC tại các trạm

3.2. Đặc trưng dị thường ion hóa xích đạo khu vực Đông Nam Á

3.3. Các sơ đồ TEC theo thời gian và vĩ độ

3.4. Biến thiên theo mùa và biến thiên theo hoạt tính mặt trời

3.5. Biến thiên hàng năm của các đỉnh EIA

3.6. Các dao động tuần hoàn của các đỉnh EIA khu vực Đông Nam Á

3.6.1. Dao động chu kỳ ~15 ngày

3.6.2. Dao động chu kỳ 27 ngày

3.6.3. Dao động chu kỳ 6 tháng

3.6.4. Dao động chu kỳ 1 năm

3.6.5. Dao động chu kỳ tựa 2 năm (QBO)

4. CHƯƠNG 4: BẤT THƯỜNG ĐIỆN LY BAN ĐÊM KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

4.1. Biến thiên ngày đêm của chỉ số tốc độ biến đổi TEC

4.2. Tần suất xuất hiện các bất thường điện ly

4.3. Sự phân bố của bất thường điện ly theo vĩ độ và thời gian

5. CHƯƠNG 5: MÔ HÌNH HÓA TEC QUAN SÁT BẰNG CÁC HÀM TRỰC GIAO THỰC NGHIỆM VÀ SO SÁNH VỚI CÁC MÔ HÌNH TEC TOÀN CẦU

5.1. Mô hình hóa TEC bằng phương pháp EOF

5.2. Phép phân tích EOF dữ liệu TEC

5.3. Phân tích các hệ số EOF

5.4. So sánh TEC quan sát với TEC từ các mô hình

5.4.1. Đối với các ngày yên tĩnh

5.4.2. Đối với các ngày bão từ

5.5. Đánh giá sai số các mô hình

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bong bóng plasma và ion hóa xích đạo

Nghiên cứu về bong bóng plasmaion hóa xích đạo tại Việt Nam đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Bong bóng plasma là hiện tượng xảy ra trong tầng điện ly, nơi mà sự ion hóa của khí quyển tạo ra các vùng có mật độ electron cao. Hiện tượng này thường xảy ra vào ban đêm và có thể gây ra các bất thường trong việc truyền tín hiệu GPS. Ion hóa xích đạo là một hiện tượng quan trọng trong nghiên cứu tầng điện ly, đặc biệt là trong việc hiểu rõ hơn về dị thường ion hóa xích đạo (EIA). EIA được đặc trưng bởi sự xuất hiện của hai đỉnh mật độ electron ở khoảng ±15°-20° vĩ độ từ xích đạo. Sự nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc của tầng điện ly mà còn có ứng dụng thực tiễn trong công nghệ định vị toàn cầu.

1.1. Tính chất plasma và ứng dụng

Plasma là trạng thái vật chất phổ biến trong vũ trụ, và tính chất plasma có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong nghiên cứu bong bóng plasma, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng plasma có thể ảnh hưởng đến sự truyền tín hiệu điện từ. Ứng dụng plasma trong công nghệ viễn thông và định vị toàn cầu là một trong những lĩnh vực quan trọng. Việc hiểu rõ về ion hóabong bóng plasma giúp cải thiện độ chính xác của các hệ thống GPS, từ đó nâng cao hiệu quả trong các ứng dụng như khảo sát địa hình và nghiên cứu khí quyển.

II. Nghiên cứu ion hóa xích đạo tại Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực có ion hóa xích đạo mạnh mẽ, điều này tạo ra nhiều cơ hội cho nghiên cứu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ion hóa trong khu vực này có sự biến đổi theo mùa và theo hoạt động của mặt trời. Sự biến động này có thể ảnh hưởng đến các hệ thống định vị toàn cầu. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng công nghệ GPS để thu thập dữ liệu về hàm lượng điện tử tổng cộng (TEC) và phân tích các bất thường điện ly. Kết quả cho thấy rằng bong bóng plasma thường xuất hiện trong các điều kiện khí quyển nhất định, và việc theo dõi chúng có thể giúp dự đoán các hiện tượng thời tiết không gian.

2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu về ion hóa xích đạo tại Việt Nam đang ngày càng phát triển. Nhiều dự án nghiên cứu đã được triển khai nhằm tìm hiểu sâu hơn về bong bóng plasma và các bất thường điện ly. Các nhà khoa học Việt Nam đã hợp tác với các tổ chức quốc tế để chia sẻ dữ liệu và kinh nghiệm. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về tầng điện ly mà còn có thể ứng dụng trong các lĩnh vực như viễn thông và khí tượng. Các kết quả nghiên cứu đã được công bố trên nhiều tạp chí khoa học quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học vũ trụ.

III. Ứng dụng công nghệ plasma trong nghiên cứu

Công nghệ plasma đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ y tế đến công nghiệp. Trong nghiên cứu bong bóng plasma, công nghệ này giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về các hiện tượng điện ly. Ứng dụng plasma trong nghiên cứu ion hóa xích đạo có thể cải thiện độ chính xác của các hệ thống định vị toàn cầu. Việc sử dụng các mô hình điện ly tham chiếu quốc tế như IRI giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về sự biến đổi của tầng điện ly. Các nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển các công nghệ mới.

3.1. Tác động của plasma đến môi trường

Nghiên cứu về plasmaion hóa không chỉ dừng lại ở việc hiểu rõ các hiện tượng vật lý mà còn mở ra hướng đi mới trong việc bảo vệ môi trường. Các ứng dụng của plasma trong xử lý chất thải và ô nhiễm không khí đang được nghiên cứu. Việc sử dụng plasma để xử lý các chất ô nhiễm có thể giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Hơn nữa, việc hiểu rõ về bong bóng plasmaion hóa có thể giúp dự đoán các hiện tượng thời tiết cực đoan, từ đó có biện pháp ứng phó kịp thời.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TẦNG ĐIỆN LY, HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU VÀ NGHIÊN CỨU ĐIỆN LY VÙNG VĨ ĐỘ THẤP SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ GPS Trong chương này NCS giới thiệu khái quát về tầng điện ly: khái niệm tầng điện ly, các lớp điện ly, sự hình thành tầng điện ly, dị thường ion hóa xích đạo, các bất thường điện ly, bất ổn định Rayleigh-Taylor, El Niño và dao động Nam (ENSO: El Niño- Southern Oscillation) của khí quyển, dao động tựa hai năm (QBO– Quasi- Biennual Oscillation) của tầng bình lưu, hệ thống định vị GPS, các nghiên cứu điện ly vùng vĩ độ thấp sử dụng công nghệ GPS. Khái quát về tầng điện ly 1. Nguồn gốc sự hình thành tầng điện ly Tầng điện ly là vùng khí quyển ở trên cao của Trái Đất, được hình thành do bức xạ mặt trời và bức xạ vũ trụ, nằm ở độ cao khoảng 50 km đến 1500 km so với mặt đất (hình 1.1), ở đó quá trình ion hóa đủ mạnh ảnh hưởng tới sự truyền sóng radio [7]. Mức độ ion hóa trong tầng điện ly phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: năng lượng bức xạ mặt trời gây ion hóa, hệ số hấp thụ năng lượng của các thành phần khí và mật độ khí quyển.

Sau khi khí quyển trung hòa bị ion hóa, một quá trình ngược lại gọi là quá trình tái hợp giữa điện tử và ion xảy ra liên tục nhưng chậm chạp, vì vậy trong khoảng thời gian ban đêm mật độ điện tử vẫn còn được duy trì (Rishbeth & Garriot, 1969 [8]). Sơ đồ các lớp khí quyển và các lớp của tầng điện ly (Rishbeth & Garriot [8]) Plasma tầng điện ly, hay khí ion hóa, bao gồm các ion và các electron được hình thành từ sự ion hóa các hạt trung hòa bởi năng lượng bức xạ mặt trời, và trở lại là 8 khí trung hòa bởi sự tái tổ hợp các ion và các điện tử. Lớp khí quyển trung hòa bị đốt nóng bởi sự hấp thụ năng lượng bức xạ mặt trời và được duy trì ở trạng thái cân bằng được thiết lập giữa sự tác động cưỡng bức của lực hấp dẫn của Trái Đất và građient áp suất khí quyển. Lớp khí trung hòa hấp thụ năng lượng bức xạ mặt trời tùy thuộc vào độ cao và kết cấu hình thái thể khí có mặt trong một lớp riêng biệt.

Ở dưới độ cao khoảng 170 km thể khí liên tục Shumann-Runge của bức xạ cực tím (UV: ultraviolet radiation) có bước sóng từ 130-170 nm đóng vai trò là nguồn bức xạ chính, ban đầu là phản ứng phân ly O2. Trong phạm vi độ cao từ 170-300 km, bức xạ cực tím cực đại (EUV: Extreme ultraviolet, bước sóng   102.5 nm) trở thành nguồn nhiệt chính do sự ion hóa thể khí loại nguyên tử và phân tử. Những photon có bước sóng   102.5 nm bị hấp thụ gần như hoàn toàn do sự quang ion hóa N2, O2, và O, và năng lượng dư thừa từ đó được dùng hết vào quá trình ion hóa và vào sự kích thích ion trở thành năng lượng động học của những quá trình quang điện. Những phản ứng tái tổ hợp ion và sự va chạm giữa ion và nguyên tử cũng trở thành một nguồn nhiệt.

Để hiểu được sự hình thành tầng điện ly, đầu tiên chúng ta phải nắm được quá trình sinh và mất plasma biến đổi như thế nào theo độ cao trong phạm vi tầng điện ly. Sau khi hình thành, plasma được vận chuyển bởi sự tác động của trọng lực, građient áp suất, lực điện từ và bởi sự va chạm với các hạt trung hòa. Phương trình liên tục bao gồm các tác động này là phương trình cơ bản miêu tả sự hình thành tầng điện ly. Những điều kiện tầng điện ly khác nhau quan sát được (ví dụ., những biến thiên mùa, dị thường ion hóa xích đạo, bão điện ly gây ra bởi nhiễu loạn từ, những cấu trúc bất thường…) có thể hiểu được bằng cách xem xét các số hạng trong phương trình liên tục.

Phương trình liên tục có chứa các số hạng biểu thị hiệu ứng của các quá trình khác nhau làm thay đổi mật độ điện tử Ne. Các phương trình liên tục cũng có thể viết hoặc cho các ion âm hoặc cho các ion dương hoặc bất kỳ hợp phần nào mà hàm lượng của chúng thay đổi theo thời gian. Trong một đơn vị thể tích chúng ta có phương trình [8,9,10]: [Tốc độ thay đổi mật độ điện tử] = [Tốc độ tạo điện tử] - [Tốc độ mất điện tử] - [thay đổi do quá trình vận chuyển] Ne   t ø  q  l ø Ne ù   Ne V ù (1.1) 9 trong đó: Ne: mật độ điện tử; V : vận tốc trôi dạt thực; q và l: lần lượt là tốc độ sinh và mất điện tử, những giá trị sinh và mất được xác định chủ yếu bằng năng lượng ion hóa bức xạ mặt trời và những phản ứng tái tổ hợp ion. Trong tầng điện ly, ở dưới độ cao 200 km, quá trình vận chuyển không lớn do đó chúng ta có thể bỏ qua đại lượng này thu được phương trình ‘quang hóa’ chỉ chứa Ne đạo hàm.

Hơn nữa ‘hằng số thời gian’ liên quan tới số hạng mất mát l nhỏ hơn t nhiều các số hạng khác, vì thế phương trình ‘cân bằng quang hóa’ q = l(Ne) là thích hợp. Điều này đúng đối với các lớp D, E và F1 vào ban ngày. Trên khoảng độ cao 250 km, các số hạng quang hóa q và l trong phương trình liên tục không còn chiếm ưu thế và do đó ‘trạng thái vận chuyển’ tồn tại. Các lớp điện ly Dựa vào các tuyến mật độ điện tử đạt cực đại ở một độ cao nào đó mà người ta phân chia tầng điện ly thành nhiều lớp theo trật tự tăng dần chiều cao được gọi là lớp D (ở độ cao 50-90 km), lớp E (90-150 km), và lớp F, vào ban ngày lớp F được phân thành lớp F1 và F2.

Tuyến mật độ điện tử và ion theo chiều cao (mô hình điện ly tham chiếu quốc tế IRI): a) tại thời điểm 1200 LT, b) tại thời điểm 0000 LT Hình 1.2 là một ví dụ về tuyến mật độ điện tử và mật độ theo mô hình IRI của một số loại ion dương trên tầng điện ly (He+, H+, O+, NO+, O2+) theo chiều cao vào thời gian ban ngày 1200 LT (hình 1.2a) và vào thời gian ban đêm 0000 LT (hình 1. Trên các đường cong mật độ điện tử đạt cực đại rõ rệt ở độ cao lớn hơn khoảng 200 km, gọi là cực đại lớp F (ban đêm) hoặc cực đại lớp F2 (ban ngày). Bên trên cực 10 đại lớp F hoặc lớp F2 mật độ điện tử giảm dần theo chiều cao. Ban đêm lớp E giảm rất mạnh và hầu như không tồn tại.

Mỗi một lớp điện ly được đặc trưng bởi các tham số: độ cao của lớp: h; chiều dày của lớp: y; mật độ điện tử cực đại: Ne. Các tham số này phụ thuộc vào: thời gian trong ngày, mùa trong năm, hoạt tính mặt trời, hoạt động địa từ và vị trí địa lý của mỗi khu vực. Hợp phần ion Hợp phần ion và hợp phần khí trung hòa được xác định bằng các tài liệu đo đạc bằng tên lửa cùng với các phổ kế khối lượng và vệ tinh. Johnson (1969) [12] đã tổng kết các kết quả của phép đo nồng độ được minh họa trên hình 1.

Kết quả ở hình này minh họa các điều kiện ban ngày trung bình trong thời kỳ vết đen mặt trời cực tiểu. Hợp phần khí quyển và tầng điện ly trong thời gian ban ngày dựa trên các phép đo phổ kế khối lượng và vệ tinh [12]. Quan sát trên mô hình có thể thấy rằng vào ban ngày, ở dưới độ cao 165 km, các ion NO+ và O+2 chiếm ưu thế, trên độ cao đó O+ chiếm ưu thế nhất. Vào ban đêm ở độ cao khoảng 220 km bắt đầu có sự chuyển tiếp.

Các ion khác có mặt với hàm lượng rất nhỏ. Hợp phần khí trung hòa chính trong nhiệt quyển là O, N2, và O2. Như vậy các ion được tạo ra bởi quá trình quang ion hóa là: O+, N2+, O2+ thông qua các phản ứng quang hóa sau [8,9,10]: Quang hóa + O + h  O + e N2 + h  N2+ + e O2 + h  O2+ + e Di chuyển hoặc thay đổi + + O + O2  O2 + O O+ + N2  NO+ + N N2+ + O  NO+ + N N2+ + O  O+ + N 2 N2+ + O2  O2+ + N2 Tái hợp phân ly O2+ + e  O* + O** NO+ + e  N* + O* N2+ + e  N* + N** 11 Trong đó, h là hằng số Planck,  là tần số bức xạ, dấu * và dấu ** thể hiện ion ở hai trạng thái kích thích khác nhau. Các mũi tên trong các phương trình quang hóa, di chuyển hoặc thay đổi và tái hợp phân ly thể hiện quá trình tạo thành các ion và các hợp phần khí trung hòa trong mỗi kiểu phản ứng.

Dynamo lớp E Dynamo lớp E chi phối bởi các dao động triều của khí quyển [13,14]. Triều trong khí quyển là các dao động tuần hoàn của không khí có quy mô toàn cầu. Các triều khí quyển này được tạo ra do hơi nước và khí quyển hấp thụ bức xạ năng lượng mặt trời trong ngày. Các triều trong khí quyển có biên độ lớn nhất chủ yếu được tạo ra ở tầng đối lưu và tầng bình lưu, chúng lan truyền ra khỏi các vùng nguồn và di chuyển lên quyển giữa và nhiệt quyển.

Trong trường hợp không có bất kỳ sự suy giảm hay sự bẫy nào, động năng trên một đơn vị thể tích (pU2/2) của quá trình lan truyền lên trên có xu hướng không đổi và do đó vận tốc U tăng theo chiều cao. Khả năng của dạng triều để tạo ra các dòng điện tầng điện ly phụ thuộc vào bước sóng dọc của nó. Dạng triều có bước sóng dọc ngắn có xu hướng tạo ra các dòng điện có hướng ngược nhau sau mỗi vài km mà nó gây ra, do đó, các dòng điện theo phương ngang liên kết với nhau theo phương thẳng đứng rất nhỏ. Do đó chỉ những dao động triều đồng pha ở trên độ cao tầng điện ly có độ dẫn điện lớn (~90-120 km ở lớp E) sẽ sinh ra các dòng điện có cường độ lớn trên tầng điện ly thiết lập quá trình dynamo [13,14,15,16,17].

Gió trung hòa cùng với các thành phần nhật triều và bán nhật triều khí quyển gây ra các dòng điện chạy trong vùng có độ cao khoảng ~90-120 km.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ