đặt vấn đề như vậy, mặt chức năng của ngôn ngữ được chú trọng hơn theo một tiếp cận hoàn toàn mới: cấu trúc và các đặc điểm cấu trúc của từ hoặc của các cấu trúc lớn hơn từ, suy cho cùng chỉ là những phương tiện giúp người nói nhận diện ra được những sự vật có trong thực tế khách quan mà trong nội dung các thông điệp đã được nhắc tới. Một câu có hình thức trần thuật vẫn có thể đảm đương nhiệm vụ của một câu nghi vấn hay một câu cầu khiến. Vấn đề là câu đó được sử dụng vào lúc nào và chủ đích của người nói là hướng tới cái gì, đã sử dụng những phương tiện gì đi kèm hoặc kết hợp với câu đó khi biểu lộ những chủ đích này. Nói cách khác, cái quan trọng chính là phát ngôn đó dùng để nói lên cái gì trong một hoàn cảnh cụ thể.
Đó chính là nghĩa của lời. Nghĩa của lời quan trọng nhất chính là việc hướng tới các sự vật có trong thực tế khách quan mà nội dung mệnh đề muốn bàn luận tới. Ngôn ngữ học trong thời hiện đại, nhất là ngữ nghĩa học quan tâm tới hành vi hướng tới thực tế khách quan này của lời, cái thường được gọi là hành vi sở chỉ của hành động nói năng. Quan niệm về sở chỉ (reference) Không phải ngẫu nhiên mà A.Cruse lại nói rằng: “Chủ đề về sở chỉ là nguyên nhân tuôn tràn hàng tấn mực: một vài bộ óc triết học huyền ảo nhất đã giáp lá cà với nó và các cuộc tranh luận dễ mất lòng chẳng bao giờ có hồi kết.317] Nhận định trên của A.Cruse trong Meaning in Language: An introduction to Semantics and Pragmatics (Nghĩa trong ngôn ngữ: Một nhập môn vào Ngữ nghĩa học và Ngữ dụng học) đã cho thấy tính phức tạp của vấn đề sở chỉ.
Có thể nhận thấy sự phức tạp này qua những quan niệm tiêu biểu trong và ngoài nước dưới đây: a. Quan niệm của các tác giả nước ngoài Để xác định hiểu được nghĩa của phát ngôn, có một cách xuất phát là tìm hiểu quy luật tương ứng giữa các biểu thức ngôn ngữ với các sự vật có trong thực tế khách quan. Nói cách khác, sở chỉ chính là hành vi của người nói nhằm đồng nhất hóa nội dung của một biểu thức ngôn ngữ với sự vật có trong thực tế.Green trong Pragmatics and Natural languages understanding (1989) đã phát biểu: “Thuật ngữ chiếu vật (sở chỉ) được dùng để chỉ cách mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” [dẫn theo 79, tr.Green quan niệm sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ mà từ hành vi này, một “thực thể”, một “đặc tính”, một “sự kiện” sẽ được người nghe nhận diện thông qua một biểu thức ngôn ngữ. Cùng quan điểm với M.
Cruse viết: “Chúng ta, tốt hơn hết là cho rằng chiếu vật là một hành vi nhờ nó mà người nói và người viết dùng các hình thức ngôn ngữ nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc biết được một sự vật nào đó” [dẫn theo 70, tr. Và: “Dưới cái đầu đề sở chỉ, chúng ta sẽ gặp một trong những bình diện cơ bản, sống còn nhất của ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ, đó chính là mối quan hệ giữa ngôn ngữ như là phương tiện giao tiếp giữa con người và cái thế giới mà chúng ta giao tiếp về nó” [77, tr.137]; “Sở chỉ được quan tâm cùng với việc thể hiện các thực thể có trong thế giới nhờ các phương tiện ngôn ngữ học” [77, tr. Thừa nhận sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã đồng thuận khi cho rằng: sở chỉ không phải là “việc làm tự thân của ngôn ngữ mà là 7 c của con người” [13, tr. Yule nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ - ở đây là biểu thức chiếu vật - tự chúng không quy chiếu được với bất cứ một cái gì cả.
Chỉ con người mới chiếu vật.” [dẫn theo 70, tr. Từ sự khẳng định sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ. Yếu tố thứ nhất rất dễ nhận diện, đó chính là “cái gì đó có trong thế giới” [77, tr. Bởi suy cho cùng, mục đích của sự sở chỉ là thông qua ngôn ngữ làm nảy ra cái thực thể có trong thế giới và để cho người nghe xác định được thực thể đó.
Vậy yếu tố thứ hai là gì? A. Cruse cho rằng, yếu tố thứ hai chính là biểu thức ngôn ngữ (linguistic expression). Một ví dụ được ông đưa ra để phân tích cho sự khẳng định này: (1) Geoge Bush is to visit Ireland in May. (Tổng thống Geoge Bush sẽ đi thăm nước Ireland vào tháng 5) Biểu thức Geoge Bush ở đây quy chiếu đến một vị tổng thống Hòa Kỳ.
Người nghe xác định được điều này bởi vì người nghe nhận ra được mối quan hệ giữa các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ, đó là một cá nhân trong thực tế (yếu tố thứ nhất) và biểu thức ngôn ngữ Geoge Bush (yếu tố thứ hai). Tuy nhiên, ông cũng nhất mạnh: “Không có một quan hệ một đối một đặc quyền nào giữa biểu thức Geoge Bush và ông Geoge Bush đang là tổng thống Hoa Kì. Không nghi ngờ gì có hàng trăm (là ít nhất) các ông Geoge Bush trên thế giới. Sở dĩ Geoge Bush quy chiếu với ông tổng thống đương nhiệm của Hoa Kì chỉ là bởi vì có một người nói nào đó định dùng biểu thức này cho cái mục đích ở một dịp đặc biệt nào đó” [77, tr.
Như vậy, để có thể nhận diện được mối quan hệ giữa hai yếu tố trên, người nghe cần phải xác định được chủ đích của người nói trong việc tạo lập ra phát ngôn. Tóm lại, khi nói về sở chỉ, các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận: sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ và sở chỉ thể hiện mối quan hệ giữa đối tượng, sự vật trong thế giới khách quan với một hình thức biểu đạt là phương tiện ngôn ngữ. Quan niệm của các tác giả Việt Nam Cũng bàn về vấn đề sở chỉ, ở Việt Nam, có hai nhà ngôn ngữ học không thể không nhắc tới, đó là Cao Xuân Hạo và Đỗ Hữu Châu. - Quan niệm của Cao Xuân Hạo: Cần phải nói ngay rằng, Cao Xuân Hạo đã dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) lẫn vật sở chỉ (referent).
Trong công trình nghiên cứu của mình, 8 c ông không đưa ra quan niệm cụ thể về sở chỉ như một hành động mà chỉ thể hiện quan niệm này qua cách định nghĩa về vật sở chỉ. Chính vì vậy, những trích dẫn dưới đây của ông về sở chỉ phải được hiểu là vật sở chỉ (referent). + Cao Xuân Hạo cho rằng: “Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác định gồm những đối tượng cụ thể” [31, tr. Sở chỉ của từ chỉ xác định được khi từ nằm trong câu (phát ngôn).
Nói khác đi, “Trong câu nói các từ ngữ mới có thể có sở chỉ (referent)” [33, tr. Chẳng hạn, một danh từ riêng như Hương chỉ có thể xác định được sở chỉ của nó khi danh từ này nằm trong phát ngôn, kiểu như: (2) Hương lớp 7A học rất giỏi. Nhờ định ngữ lớp 7A mà sở chỉ của từ Hương trong trường hợp này được xác định (với điều kiện lớp 7A chỉ có một người tên là Hương, còn nếu lớp 2A có hai người tên là Hương thì phải thêm các điều kiện khác). Đó là một con người cụ thể, phân biệt với tất cả những người cụ thể khác (cũng có tên là Hương hoặc không có tên là Hương).
Tách từ Hương ra khỏi phát ngôn, Hương vẫn là một danh từ riêng nhưng chúng ta không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ này, tức là không thể xác định được từ Hương ở đây chỉ ai, tức chỉ đối tượng cụ thể nào. + Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Cao Xuân Hạo nói rõ: Nghĩa sở chỉ của từ ngữ “là mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực”.104] Chẳng hạn: (3) Cái bút ở trên bàn là của bạn Trang. Cái bút trong trường hợp này đã xác định được sở chỉ bởi ta biết nó quy chiếu đến đối tượng nào trong thực tế. Đây là một cái bút cụ thể của một nhân vật cụ thể.
Tuy nhiên, để hiểu được nghĩa sở chỉ của từ (cái) bút, người nghe phải có sự liên hệ với thực tế khách quan, tức là phải biết được một vật như thế nào được gọi là (cái) bút, nói khác đi là phải hiểu được nghĩa biểu vật của từ bút. Cao Xuân Hạo còn nói thêm: “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộc bình diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [33, tr. Tức là chỉ xác định được nghĩa sở chỉ của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động. Ví dụ: (4) Tôi đói quá! Khi phát ngôn này tồn tại ở dạng tĩnh tại, người nghe sẽ không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ tôi bởi không biết tôi ở đây quy chiếu vào ai.
Nhưng nếu câu này phát ra bởi chủ thể A, tại thời điểm t, khi mà A vừa đi làm về và chưa ăn gì thì người nghe sẽ dễ dàng xác định được nghĩa sở chỉ của từ tôi. 9 c Tóm lại, theo cách hiểu của Cao Xuân Hạo thì sở chỉ là đối tượng cụ thể, xác định, tồn tại trong một thế giới khả hữu (một thế giới có thể có thực và có thể không có thực). Còn nghĩa sở chỉ của từ là mối liên hệ giữa từ với đối tượng mà từ phản ánh. Khi chưa được sử dụng, từ không có nghĩa sở chỉ.
- Quan niệm của Đỗ Hữu Châu: Đỗ Hữu Châu không dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) và vật sở chỉ (referent) như Cao Xuân Hạo mà dùng thuật ngữchiếu vật vàvật quy chiếu. Ông quan niệm: + “Chiếu vật (reference) là quan hệ giữa phát ngôn - cũng tức là giữa biểu thức chiếu vật - với các bộ phận trong ngữ cảnh của nó” [13, tr. Vật quy chiếu (referent) là sự vật, hiện tượng tồn tại trong một thế giới khả hữu - hệ quy chiếu. Điều này có nghĩa là bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành vật quy chiếu nếu nó tồn tại trong một thế giới khả hữu nhất định.
Ví dụ: (5) Nai Nhỏ xin phép cha được đi chơi xa cùng bạn.