Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu biến tính bề mặt nano silica làm chất mang thuốc chống ung thư

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu biến tính bề mặt nano silica làm chất mang thuốc chống ung thư, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ

2022

134
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Vật liệu nano silica

1.1.1. Giới thiệu tổng quát

1.1.2. Vật liệu nano silica xốp. Các tính chất của vật liệu nano silica xốp

1.1.3. Các phương pháp tổng hợp vật liệu nano silica

1.1.4. Tổng hợp nano silica xốp (porous nano silicas gọi tắt PNS) bằng phương pháp sol-gel

1.1.5. Tổng hợp nano silica xốp (porous nano silicas gọi tắt PNS) bằng phương pháp kết tủa

1.1.6. Tổng hợp nano silica xốp (PNS) bằng phương pháp ngưng tụ hóa học (chemical vapor condensation gọi tắt là CVC)

1.2. Các chất dùng để biến tính bề mặt nano silica

1.2.1. Biến tính bằng chitosan (CS)

1.2.2. Biến tính bằng dithiodipropionic acid (DTDP)

1.2.3. Biến tính bằng Gelatin

1.3. Thuốc trị bệnh ung thư (hóa trị)

1.3.1. Cơ chế của 5-FU

1.4. Ứng dụng công nghệ nano làm chất dẫn truyền thuốc chống ung thư

1.4.1. Cơ chế mang thuốc hướng đích thụ động:

1.4.2. Cơ chế mang thuốc hướng đích chủ động:

1.5. Những nghiên cứu của vật liệu nano silica trong lĩnh vực dẫn truyền thuốc

1.6. Nội dung và phương pháp nghiên cứu.

1.6.1. Tổng hợp nanosilica xốp và tạo cầu nối biến tính

1.6.2. Tổng hợp vật liệu nano silica xốp bằng phương pháp sol-gel

1.6.3. Tạo cầu nối biến tính

1.6.4. Biến tính vật liệu nano silica xốp (PNS). Biến tính PNS bằng Chitosan-mPEG (tổng hợp PNS-GPTMS-CS-mPEG là chất mang thuốc 2)

1.6.5. Biến tính PNS bằng Gelatin (tổng hợp PNS-APTES-COOH-GE là chất mang 4)

1.6.6. Biến tính PNS bằng Gelatin-mPEG (tổng hợp PNS-GEL-mPEG hay còn gọi là PNS-APTES-GEL-mPEG là chất mang thuốc 5)

1.6.7. Biến tính PNS bằng SS-CS-PEG (tổng hợp PNS-SS-CS-PEG hay còn gọi PNS@CS-PEG là chất mang 6)

1.6.8. Thử nghiệm độc tính tế bào (cytotoxicity test)

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất và thiết bị

2.2. Tổng hợp nano silica xốp và tạo cầu nối biến tính

2.2.1. Tổng hợp vật liệu nano silica xốp (PNS) bằng phương pháp sol-gel[52]

2.2.2. Tổng hợp vật liệu nano silica xốp bằng phương pháp kết tủa [53]

2.2.3. Tạo cầu nối biến tính

2.3. Biến tính vật liệu nano silica xốp

2.3.1. Biến tính bằng hydrazine (tổng hợp PNS-GPTMS-Hydrazine là chất mang thuốc 1)

2.3.2. Biến tính PNS bằng Chitosan-mPEG (tổng hợp PNS-GPTMS-CS-mPEG là chất mang thuốc 2)

2.3.3. Biến tính bằng gelatin (tổng hợp PNS-APTES-COOH-GE là chất mang 4)

2.3.4. Biến tính PNS bằng gelatin-mPEG (tổng hợp PNS-APTES-COOH-GEL- mPEG hay còn gọi là PNS -GEL-mPEG là chất mang thuốc 5)

2.3.5. Biến tính bằng SS-CS-PEG (tổng hợp PNS-SS-CS-PEG (là chất mang thuốc 6)

2.4. Khảo sát quá trình mang giải phóng của vật liệu

2.4.1. Khảo sát quá trình mang thuốc 5-FU và giải phóngthuốc

2.4.2. Khảo sát khả năng mang và giải phóng DOX trên vật liệu

2.5. Thử nghiệm độc tính tế bào

2.5.1. Phương pháp nuôi cấy tế bào

2.5.2. Quy trình khảo sát hoạt tính gây độc bằng phương pháp SRB

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc trưng của vật liệunano silica xốp (PNS)

3.1.1. Khảo sát kích thước hạt PNS bằng phương pháp solgel.

3.1.2. Ảnh TEM của vật liệu nano silica xốp (PNS) tổng hợp bằng phương pháp sol-gel

3.1.3. Kết quả phân tích ảnh SEM của vật liệu nano silica xốp (PNS) tổng hợp bằng phương pháp kết tủa.

3.1.4. Kết quả phân tích giản đồ XRD của vật liệu nano silica xốp (PNS) tổng hợp bằng phương pháp sol-gel và phương pháp kết tủa

3.1.5. Kết quả FT-IR của vật liệu nano silica xốp (PNS) tổng hợp bằng phương pháp sol- gel và phương pháp kết tủa

3.1.6. Kết quả BET của vật liệu nano silica xốp (PNS) tổng hợp bằng phương pháp sol- gel và phương pháp kết tủa

3.2. Biến tính nano silica xốp

3.2.1. Biến tính thông qua cầu nối GPTMS

3.2.2. Biến tính bằng Hydrazine (tổng hợp PNS-GPTMS-Hydrazin-chất mang thuốc 1)

3.2.3. Biến tính bằng Chitosan-mPEG (tổng hợp PNS-GPTMS-Chitosan-mPEG viết tắt PNS-GPTMS-CS-mPEG là chất mang thuốc 2)

3.2.4. Biến tính thông qua cầu nối APTES

3.2.5. Biến tính bằng gelatin (tổng hợp PNS-APTES-COOH-gelatin còn gọi PNS-APTES- COOH-GE (chất mang thuốc 4))

3.2.6. Biến tính PNS bằng GEL-mPEG (tổng hợp PNS-APTES-COOH-GEL-mPEG hay còn gọi tắt là PNS-Gelatin-mPEG (chất mang thuốc 5)

3.2.7. Biến tính SS-CS-PEG (tổng hợp PNS@CS-PEG hay còn gọi là PNS-APTES-SS- COOH-CS-PEG (chất mang thuốc 6))

3.2.8. Nhận xét chung các hệ biến tính

3.3. Kết quả mang và giải phóng thuốc

3.3.1. Kết quả mang và giải phóng thuốc của PNS

3.3.2. Xây dựng đường chuẩn 5-Fluorouracil (5-FU)

3.3.3. Kết quả mang thuốc 5-FU của PNS (nano silica xốp)

3.3.4. Kết quả mang thuốc DOX của PNS (nano silica xốp)

3.3.5. Kết quả giải phóng thuốc DOX của PNS (nano silica xốp)

3.3.6. Kết quả mang và giải phóng của PNS-GPTMS-Hydrazine (chất mang thuốc 1)

3.3.7. Khảo sát mang và giải phóng 5-FU của PNS-GPTMS-Hydrazine.

3.3.8. Khảo sát giải phóng 5-FU của PNS-GPTMS-Hydrazine

3.3.9. Kết quả mang thuốc DOX của PNS-GPTMS-Hydrazine

3.3.10. Khảo sát khả năng giải phóng DOX của vật liệuPNS-GPTMS-Hydrazine

3.3.11. Kết quả mang và giải phóng thuốc của PNS-GPTMS-CS-mPEG (Chất mang thuốc 2)

3.3.12. Kết quả mang 5-FUcủa hệ PNS-GPTMS-CS-mPEG

3.3.13. Kết quả mang thuốc DOX của PNS-GPTMS-CS-mPEG

3.3.14. Khảo sát khả năng giải phóng thuốc DOX của hệ PNS-GPTMS-CS-mPEG

3.3.15. Kết quả mang và giải phóng của PNS-APTES (chất mang thuốc 3)

3.3.16. Kết quả mang 5-FU của PNS-APTES

3.3.17. Kết quả giải phóng 5-FU của PNS-APTES

3.3.18. Kết quả mang DOX của PNS-APTES

3.3.19. Kết quả giải phóng DOX của PNS-APTES

3.3.20. Kết quả mang và giải phóng PNS-APTES-Anhydrid Succinic-Gelatin (PNS- APTES-COOH-GE là chất mang thuốc 4)

3.3.21. Kết quả mang 5-FU của PNS-APTES-COOH-GE

3.3.22. Kết quả giải phóng 5-FU của PNS-APTES-COOH-GE.

3.3.23. Phổ HPLC của 5-FU (a) và HPLC của hệ PNS-APTES-COOH-GE

3.3.24. Kết quả mang DOX của PNS-APTES-COOH-GE

3.3.25. Kết quả giải phóng DOX của PNS-APTES-COOH-GE

3.3.26. Kết quả mang và giải phóng PNS-APTES-Anhydrid Succinic- Gelatin-mPEG (gọi tắt là PNS-GEL-mPEG là chất mang thuốc 5)

3.3.27. Khảo sát khả năng mang 5-FU của hệ PNS-GEL-mPEG

3.3.28. Kết quả mang thuốc DOX của PNS-GEL-mPEG

3.3.29. Khảo sát khả năng giải phóng DOX của hệ PNS-GEL-mPEG

3.3.30. Kết quả mang và giải phóng của hệ PNS@CS-PEG

3.3.31. Kết quả mang thuốc DOX của PNS@CS-PEG

3.3.32. Kết quả giải phóng DOX của PNS@CS-PEG

3.3.33. Nhận xét chung cho tất cả các kết quả mang và giải phóng thuốc

3.4. Kết quả thử độc tính tế bào

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬNVÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Mục tiêu đề tài

SƠ ĐỒ MÔ TẢ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu biến tính bề mặt nano silica cho thuốc chống ung thư

Nghiên cứu về biến tính bề mặt nano silica đã thu hút sự chú ý lớn trong lĩnh vực y học hiện đại. Nano silica, với kích thước nhỏ và diện tích bề mặt lớn, có khả năng mang thuốc hiệu quả. Tuy nhiên, việc rò rỉ thuốc trong quá trình vận chuyển là một thách thức lớn. Do đó, việc biến tính bề mặt nano silica nhằm cải thiện khả năng mang thuốc và giảm thiểu tác dụng phụ là rất cần thiết.

1.1. Đặc điểm và ứng dụng của nano silica trong y học

Nano silica có nhiều đặc điểm nổi bật như tính tương thích sinh học cao và khả năng phân hủy sinh học. Những đặc điểm này giúp nano silica trở thành một lựa chọn lý tưởng trong việc phát triển các hệ dẫn truyền thuốc thông minh.

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tại về nano silica

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nano silica có thể cải thiện hiệu quả của thuốc chống ung thư. Tuy nhiên, việc tối ưu hóa cấu trúc và tính chất của nano silica vẫn là một thách thức lớn.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng nano silica làm chất mang thuốc

Mặc dù nano silica có nhiều ưu điểm, nhưng việc rò rỉ thuốc trong quá trình mang thuốc là một vấn đề nghiêm trọng. Điều này dẫn đến việc giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ tác dụng phụ. Các nghiên cứu hiện tại đang tìm cách khắc phục vấn đề này thông qua việc biến tính bề mặt nano silica.

2.1. Tác động của việc rò rỉ thuốc đến hiệu quả điều trị

Rò rỉ thuốc có thể dẫn đến việc giảm nồng độ thuốc tại vị trí mục tiêu, làm giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ tác dụng phụ cho bệnh nhân.

2.2. Các phương pháp biến tính bề mặt nano silica

Có nhiều phương pháp biến tính bề mặt nano silica như sử dụng chitosan, gelatin và các polymer khác. Những phương pháp này giúp cải thiện khả năng giữ thuốc và giảm thiểu rò rỉ.

III. Phương pháp biến tính bề mặt nano silica hiệu quả cho thuốc chống ung thư

Việc biến tính bề mặt nano silica là một giải pháp tiềm năng để cải thiện khả năng mang thuốc. Các phương pháp như sử dụng chitosan, gelatin và hydrazine đã được nghiên cứu và cho thấy hiệu quả cao trong việc giữ thuốc.

3.1. Biến tính bằng chitosan và gelatin

Chitosan và gelatin là hai polymer tự nhiên có khả năng tạo ra các liên kết mạnh với nano silica, giúp cải thiện khả năng giữ thuốc và giảm thiểu rò rỉ.

3.2. Biến tính bằng hydrazine

Hydrazine được sử dụng để tạo cầu nối hóa học trên bề mặt nano silica, giúp tăng cường khả năng giữ thuốc và cải thiện hiệu quả điều trị.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nano silica trong điều trị ung thư

Nano silica đã được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu lâm sàng với mục tiêu cải thiện hiệu quả của thuốc chống ung thư. Các kết quả cho thấy nano silica có thể mang thuốc đến đúng tế bào bệnh và giải phóng đúng mục tiêu.

4.1. Kết quả nghiên cứu về khả năng mang thuốc

Nghiên cứu cho thấy nano silica có khả năng mang và giải phóng thuốc hiệu quả, giúp tăng cường tác dụng điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

4.2. Tương lai của nano silica trong điều trị ung thư

Với những tiến bộ trong công nghệ nano, nano silica hứa hẹn sẽ trở thành một công cụ quan trọng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư hiệu quả hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu nano silica

Nghiên cứu về biến tính bề mặt nano silica cho thuốc chống ung thư đang mở ra nhiều triển vọng mới. Việc cải thiện khả năng mang thuốc và giảm thiểu tác dụng phụ sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân ung thư.

5.1. Tóm tắt những phát hiện chính

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc biến tính bề mặt nano silica có thể cải thiện khả năng mang thuốc và giảm thiểu rò rỉ, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa các phương pháp biến tính và phát triển các hệ dẫn truyền thuốc thông minh hơn, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị ung thư.

18/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến tính bề mặt nano silica làm chất mang thuốc chống ung thư

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Vật liệu nano silica 1. Giới thiệu tổng quát Trong những năm gần đây, các nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano trong lĩnh vực y sinh mang lại nhiều triển vọng to lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề ứng dụng công nghệ nano trong lĩnh vực y học tạo ra vật liệu dẫn truyền thuốc hoặc kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh.

Trong tất cả các vật liệu nano, hạt nano silica xốp nổi trội với nhiều tính chất độc đáo và mang lại nhiều nghiên cứu hứa hẹn trong tương lai không xa [3]. Silica tồn tại rất nhiều trong điều kiện tự nhiên dưới dạng các hợp chất có chứa oxy (SiO2 còn gọi là silicon dioxide). Đến nay, chúng ta vẫn chưa có phát hiện về sự tồn tại riêng lẻ của silic. Các hợp chất của silica chiếm khoảng 78% lớp vỏ trái đất như thạch anh, đá lửa, opal, silica… [4, 5].

Silica có tầm ứng dụng rộng rãi, nó là chất độn được thêm vào nhằm làm tăng trọng lượng, tăng độ cứng, tạo độ trong suốt của sơn. Ngoài ra, silica còn có tác dụng cải thiện độ bền va đập của vật liệu, tăng khả năng phân tán, tăng độ bóng láng của sản phẩm kim loại, dễ gia công và góp phần làm giảm giá thành sản phẩm [6]. Trong vật liệu nano silica có hai nhóm vật liệu được sử dụng nhiều nhất với mục đích mang và phân phối thuốc là silica xerogels và porous nanosilicas (PNS) hay còn gọi là nano silica xốp. Silica xerogel sở hữu cấu trúc vô định hình còn nano silica xốp có hình dạng ổn định và diện tích bề mặt lớn so với nhiều loại vật liệu nano khác.

Để tạo ra nano silica xốp ta dùng phương pháp sol-gel. Trong quá trình tổng hợp các điều kiện tổng hợp sẽ quyết định hình dạng và kích thước hạt vật liệu như tỷ lệ thuốc thử, nhiệt độ, nồng độ chất xúc tác và áp suất sấy [7]. Trước kia, silica xerogel được ứng dụng rất nhiều trong lĩnh vực y học và mang thuốc, các loại thuốc đã được mang bởi loại vật liệu này có thể kể đến như phenytoin, doxorubicin, cisplatin, metronidazole, nifedipine, diclofenac và heparin [7]. Tuy nhiên độ tương thích sinh học của vật liệu không quá cao, cùng với đó vật liệu vẫn mang độc tính khi đưa vào cơ thể người, đây chính là lý do khiến vật liệu này đang bị hạn chế sử dụng và dần bị thay thế bởi vật liệu nano silica xốp (PNS).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Vật liệu PNS là một dạng silica trung tính được phát triển gần đây trong công nghệ nano [8, 9]. Đây là một vật liệu điển hình của vật liệu nanogel có cấu trúc dạng xốp độc đáo nên có thể vẫn giữ được mức độ ổn định hóa học, có chức năng bề mặt và tính tương thích sinh học tốt, đảm bảo khả năng mang và giải phóng thuốc đúng như mong muốn hoặc có sai số thấp nhất có thể. Thêm một lý do khiến nano silica xốp (PNS) được ưa chuộng và sử dụng rộng rải là chúng có sẵn rất nhiều trong thiên nhiên nên dễ dàng tìm kiếm, tổng hợp và thân thiện hơn với con người. Khả năng tương thích sinh học của nano silica xốp (PNS) cao hơn nhiều so với nano vàng hay nano sắt từ.

Ngoài ra PNS được nghiên cứu rộng rãi do vật liệu này có thể dễ dàng thay đổi cấu trúc, dạng lỗ xốp và kích thước lỗ xốp tùy thuộc vào mục đích muốn mang loại thuốc nào. Một ưu điểm đặc biệt khác của PNS là các đặc tính bề mặt của vật liệu có thể dễ dàng xác định được bằng các phương pháp thông thường, cho phép dễ dàng thực hiện chức năng của bề mặt chứa silanol để kiểm soát việc mang và giải phóng thuốc. Khi so sánh PNS với silica xerogel thì PNS cho thấy có cấu trúc đồng nhất hơn, diện tích bề mặt cao hơn để hấp phụ các phân tử thuốc cho quá trình điều trị hoặc các thiết bị phục vụ cho quá trình chẩn đoán [10]. Không chỉ có cấu trúc phù hợp cho việc mang và phân phối thuốc mà nano silica xốp còn an toàn không hề có tác dụng phụ gây độc tế bào, điều này đã mở ra cơ hội sử dụng và phát triển vật liệu này trong lĩnh vực y học đặc biệt là phân phối thuốc hoặc gen [11].

Với những đặc tính vượt trội như vậy thì PNS hứa hẹn sẽ là vật liệu có tiềm năng lớn nhất trong việc phát triển hệ thống phân phối thuốc bằng hạt nano. Vật liệu nano silica xốp Vật liệu nano silica xốp (porous nanosilica - PNS) không giống những vật liệu silica thông thường có trong tự nhiên dù có thành phần chính là SiO2, các vật liệu silica lỗ xốp chỉ có thể hình thành bằng cách tổng hợp nhân tạo và sản phẩm sẽ có độ đồng đều rất cao. Vật liệu đang được nghiên cứu và phát triển ở trạng thái rắn (bột), mịn, có cấu trúc lỗ xốp dạng tổ ong và vì vậy vật liệu có khả năng hấp phụ tốt các nguyên tử/phân tử khác, thuận lợi cho việc làm chất mang. Để tạo các lỗ xốp cho vật liệu thông thường người ta sẽ sử dụng các chất hoạt dộng bề mặt để định hình về hình dạng và kích thước lỗ xốp.

Ngoài ra những yếu tố quan trọng khác sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sản phẩm đó là thời gian phản ứng, nhiệt độ, nồng độ các chất, xúc tác, phương pháp thực hiện và môi trường thực hiện phản ứng. Vật liệu nano LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 silica xốp đang được quan tâm và thường được chọn làm vật liệu phân phối thuốc vì hoạt tính sinh học của nó tương đối cao và hứa hẹn có thể cải thiện trong tương lai, thêm vào đó nano silica xốp (PNS) còn có khả năng chống thấm rất tốt giúp bảo quản và lưu trữ thuốc tốt hơn. Ưu điểm chính của vật liệu là tính ổn định cao, số lượng lỗ xốp có thể tạo ra nhiều, diện tích bề mặt lớn và có thể tiến hành tổng hợp ở quy mô lớn hơn (sản xuất công nghiệp). Chính vì những ưu điểm cũng như tiềm năng ứng dụng trong tương lai nano silica xốp đã và đang không ngừng được cải thiện phương pháp tổng hợp để đạt kết quả như mong muốn.

Để tổng hợp vật liệu nano silica xốp có kích thước hạt đồng đều, phương pháp sol- gel đã được lựa chọn làm phương pháp chính và phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay được sử dụng là phương pháp Stõber do chính Stõber và các cộng sự nghiên cứu vào năm 1968. Phương pháp này được thực hiện trong các dung dịch ancol khác nhau chứa các silicon alkoxide với sự có mặt của xúc tác là các amin bậc thấp đặc biệt hiệu quả nhất là NH3 sẽ giúp thúc đẩy nhanh quá trình thủy phân, giúp làm giảm thời gian phản ứng cũng như chi phí thiết bị vận hành [12]. Các tính chất của vật liệu nano silica xốp Nano silica xốp (PNS) được tổng hợp có kích thước nhỏ từ 20-200nm, có tính năng độc đáo, đóng vai trò rất quan trọng và đầy tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong nhiều ngành và lĩnh vực. Các hạt nano silica được tổng hợp từ phương pháp Stober thường có diện tích bề mặt lớn phù hợp cho việc biến tính hoặc tạo cơ sở cho việc hình thành nhiều lỗ trống cho hiệu quả mang thuốc tốt hơn[13].

Kích thước lỗ rỗng lớn và có khả năng điều chỉnh được, mục tiêu là cải thiện kích thước lỗ rỗng lớn cho phép mang thuốc. Các lỗ rỗng này có thể thay đổi kích thước trong giới hạn hẹp (2-10 nm) [13, 14]. Khả năng vận chuyển được đánh giá rất cao do nano silica xốp có các lỗ rỗng lớn bên trong có khả năng hấp phụ thuốc nên được sử dụng như một chất mang trong lĩnh vực y học như thuốc chống ung thư, DNA, hormone,…[14] Nano silica có tính chọn lọc rất cao cũng như sự bền vững, ổn định khi kết hợp với thuốc, đây là một lý do khiến nano silica được đánh giá là vật liệu thích hợp cho mục tiêu mang thuốc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Tính phân hủy sinh học của nano silica là quan trọng đối với việc sử dụng trong phân phối thuốc, nano silica có trọng lượng phân tử thích hợp có thể được đào thải qua thận trong cơ thể[13].

Tuy nhiên, một nhược điểm của nano silica xốp là khi được chọn làm vật liệu mang thuốc thì không thể bảo vệ thuốc trong quá trình vận chuyển dẫn đến thuốc dễ bị rò rỉ ra ngoài từ đó có thể gây hại cho các tế bào lành tính cũng như khiến hiệu quả điều trị giảm. Vì vậy để đạt hiệu quả mang thuốc cao, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu các phương pháp biến tính bề mặt hạt nano silica bằng cách gắn thêm các polymer để bảo vệ lượng thuốc bên trong, các polymer này sẽ đóng vai trò như “nắp đậy” các lỗ trống trên bề mặt vật liệu [15]. Trong phản ứng thủy phân, nhóm ethoxy của TEOS phản ứng với các phân tử nước tạo thành [Si(OC2H5)4-X(OH)X], đây là một sản phẩm trung gian được hình thành khi các nhóm ethoxy thay thế nhóm hydroxyl và amoniac được chọn là chất xúc tác cơ bản cho phản ứng này. Phản ứng hóa học được thể hiện như sau: Si(OC2H5)4 + xH2O → Si(OC2H5)4-x(OH)x + xC2H5OH Sau phản ứng thủy phân, phản ứng ngưng tụ xảy ra ngay lập tức để tạo thành cầu nối Si-O-Si.

Sẽ có hai quá trình ngưng tụ xảy ra, khi đó nhóm hydroxyl của chất trung gian [Si(OC2H5)4-X(OH)X] phản ứng với nhóm ethoxy của các TEOS khác được gọi là “ngưng tụ rượu” vì sản phẩm tạo ra có nhóm ROH hoặc một phương pháp là nhóm hydroxyl của chất trung gian sẽ tác dụng với nhóm hydroxyl của một chất khác có thể là TEOs hoặc sản phẩm trung gian đây được gọi là phương pháp “ngưng tụ nước” do sản phẩm sau ngưng tụ sẽ có H2O. Dưới đây sẽ là phương trình cụ thể quá trình ngưng tụ tiền chất TEOS để tổng hợp PNS. Theo phương trình có thể thấy tỷ lệ giữa H2O/Si(OR)4 là 4. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong quá trình tổng hợp PNS có những yếu tố chính sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kích thước cũng như tính chất bề mặt vật liệu như pH, nồng độ tác chất, loại xúc tác và nhiệt độ phản ứng [16].

Mô tả quá trình hình thành nano silica xốp, biến tính và mang thuốc 1. Các phương pháp tổng hợp vật liệu nano silica 1. Tổng hợp nano silica xốp (porous nano silicas gọi tắt PNS) bằng phương pháp sol-gel Nano silica được tổng hợp bằng phương pháp sol-gel sao cho kích thước hạt đồng đều dưới 100 nm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu biến tính bề mặt nano silica cho thuốc chống ung thư" mang đến cái nhìn sâu sắc về việc cải thiện hiệu quả của thuốc chống ung thư thông qua việc biến tính bề mặt của nano silica. Nghiên cứu này không chỉ tập trung vào các phương pháp biến tính mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng trong việc tăng cường khả năng vận chuyển thuốc và giảm tác dụng phụ. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách mà công nghệ nano có thể cách mạng hóa điều trị ung thư, mở ra hướng đi mới cho các liệu pháp y học hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về vật liệu nano trong y sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu chế tạo tính chất của vật liệu nano gdpo4 tb3 và gd2o3 eu3 định hướng ứng dụng trong y sinh, nơi khám phá các vật liệu nano khác và ứng dụng của chúng trong y học. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu tính chất vật liệu nano au vật liệu tổ hợp znoau cuoau và định hướng ứng dụng trong y sinh môi trường cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực y sinh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tổng hợp vật liệu silic hữu cơ siêu xốp kích thước micro nano định hướng ứng dụng trong y sinh dược, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vật liệu silic và ứng dụng của chúng trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về các ứng dụng của công nghệ nano trong y sinh.