Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc với hàng triệu mét khối bùn sét trầm tích Holocen được nạo vét mỗi năm. Nguồn vật liệu này có đặc tính cơ lý rất bất lợi với hệ số rỗng ban đầu $e_0 = 1.55$, độ ẩm tự nhiên cao đạt 55.4%, dung trọng khô thấp $\gamma_k = 10.4\text{ kN/m}^3$ và sức chịu tải rất yếu. Theo tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô TCVN 4054:2005, đất bùn sét không được khuyến khích sử dụng trực tiếp làm nền đắp cho các công trình giao thông đường bộ. Tuy nhiên, việc vận chuyển đất đắp từ nơi khác đến làm tăng chi phí xây dựng, gây lãng phí diện tích đất canh tác nông nghiệp và gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông do thiếu hụt cao trình đê bao trước biến đổi khí hậu.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết bài toán tận dụng trực tiếp bùn sét nạo vét lòng kênh Cái Lớn, tỉnh Kiên Giang làm nền đường giao thông nông thôn cấp V và cấp VI. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá ứng xử lún cố kết, xác định sức chịu tải sau khi đầm chặt và phân tích hiệu quả kinh tế của giải pháp gia cường kết cấu dạng Sandwich kết hợp giữa vải địa kỹ thuật không dệt và lớp đệm cát thoát nước. Phạm vi nghiên cứu bao gồm mô hình thí nghiệm hiện trường tỷ lệ thực được triển khai và theo dõi liên tục trong 180 ngày (từ tháng 2/2017 đến tháng 8/2017).

Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn khi chứng minh giải pháp gia cường đệm cát và vải địa kỹ thuật giúp rút ngắn 48 ngày thời gian chờ cố kết so với nền đất không gia cường, gia tăng độ chặt thêm 2.8% sau 6 tháng và đạt độ chặt $K = 0.95$ sau khi lu đầm bằng xe 10 tấn. Mặc dù chi phí xử lý nền đắp tăng gấp đôi, tổng dự toán xây dựng nền và mặt đường hoàn thiện lại giảm hơn 121 triệu đồng trên mỗi kilomet tuyến, mở ra giải pháp kỹ thuật bền vững và tiết kiệm cho hạ tầng giao thông khu vực Tây Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết cố kết thấm một chiều cổ điển của Terzaghi để mô tả quá trình tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng và biến dạng nén lún của nền đất dính bão hòa nước theo thời gian. Hệ số cố kết theo phương đứng $C_v$ được xác định thông qua hệ số thấm $k_v$ và hệ số nén thể tích $m_v$:

$$C_v = \frac{k_v}{m_v \cdot \gamma_w}$$

Trong đó nhân tố thời gian $T_v$ phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài đường thấm $h$ và thời gian cố kết $t$ theo công thức $T_v = \frac{C_v \cdot t}{h^2}$. Độ cố kết trung bình của lớp đất đắp do tải trọng bản thân gây ra được xác định qua hàm giải tích:

$$U(T_v) = 1 - 1.032 \cdot e^{-\frac{\pi^2 \cdot T_v}{4}}$$

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết đầm chặt đất của D'Appolonia (1969) nhằm xác định chiều sâu ảnh hưởng hiệu quả của lu rung cơ giới và kiểm soát giới hạn chiều dày lớp rải không vượt quá 0.5 m để đạt dung trọng khô lớn nhất $\gamma_{k-\max} = 15.11\text{ kN/m}^3$ tại độ ẩm tối ưu $OMC = 19.45%$. Hệ thống phân loại đất thống nhất USCS xác định đất bùn nạo vét thuộc nhóm OH-MH (đất sét bùn dẻo cao) với giới hạn chảy $LL = 91.5%$, giới hạn dẻo $PL = 44.9%$, chỉ số dẻo $PI = 46$ và tỷ trọng hạt $G_s = 2.65$.

Mô hình kết cấu đề xuất sử dụng nguyên lý gia cường dạng Sandwich: lớp bùn sét nạo vét được đắp phân tầng, kẹp giữa hai lớp vải địa kỹ thuật không dệt và một lớp đệm cát dày 5 cm đóng vai trò là tầng thoát nước ngang hai phía, triệt tiêu áp lực nước lỗ rỗng và ngăn chặn sự xâm nhập của hạt sét mịn vào lớp đệm cát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập mẫu đất bùn nguyên dạng tại lòng sông Cái Lớn, tỉnh Kiên Giang với thành phần hạt mịn chiếm 82.7% và hạt thô chiếm 17.3%. Vật liệu gia cường sử dụng vải địa kỹ thuật không dệt có khối lượng riêng $125\text{ g/m}^2$, bề dày $1.5\text{ mm}$, cường độ kéo đứt theo phương dọc đạt $9.0\text{ kN/m}$, độ dãn dài khi đứt 62.5%, kích thước lỗ lọc $O_{90} = 0.12\text{ mm}$ và lưu lượng thấm ở 100 mm cột nước đạt $170\text{ l/m}^2/\text{giây}$.

Quy trình thí nghiệm được triển khai ngoài hiện trường với mô hình tỷ lệ thực trên nền đắp bờ bao có bề rộng mặt $B = 6\text{ m}$, mái dốc taluy $m = 1:1$, chiều cao hoàn thiện $+2.9\text{ m}$ (đối với phương án gia cường 3 lớp) và $+2.2\text{ m}$ (đối với phương án không gia cường). Sau giai đoạn xáng cạp nạo vét và phơi đất sơ bộ 6 tháng trên bờ lưu không 3 m, đất được đưa vào tim đường theo hai phương án đối chứng.

Hệ thống quan trắc lún được thiết lập gồm 3 mặt cắt ngang (CĐ1, CĐ2, CĐ3) đặt cách nhau $5\text{ m}$. Mỗi mặt cắt bố trí 3 điểm đo cao độ chính xác tại lề trái, tim đường và lề phải. Tần suất quan trắc kéo dài trong 180 ngày với 8 đợt đo (tháng đầu tiên đo 4 lần với chu kỳ 1 tuần/lần; 5 tháng tiếp theo đo 1 lần/tháng). Sau 6 tháng chờ cố kết, tiến hành lu lèn bằng xe lu 10 tấn và kiểm tra độ chặt, dung trọng khô hiện trường bằng phương pháp dao vòng theo tiêu chuẩn 22TCN 02-71. Dữ liệu kinh tế được tổng hợp và phân tích dự toán chi tiết trên 1 km tuyến dựa theo đơn giá xây dựng tỉnh Kiên Giang ban hành năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình quan trắc và phân tích dữ liệu thực nghiệm đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, kết cấu Sandwich gia cường đệm cát và vải địa kỹ thuật đẩy nhanh vượt trội tốc độ lún cố kết của bản thân khối đất đắp. Sau 180 ngày thi công, độ lún nội tại của khối đắp gia cường đạt $S_{1-t} = 27.38\text{ cm}$, cao hơn đáng kể so với mức $25.73\text{ cm}$ của khối đắp không gia cường. Theo quy luật tương quan tuyến tính giữa độ lún và logarit thời gian ($\log t$), đất đắp gia cường chỉ cần 132 ngày để đạt độ lún $25.73\text{ cm}$, giúp rút ngắn 48 ngày (tương đương giảm 26.7% thời gian chờ lún cố kết) so với phương án truyền thống.

Thứ hai, giải pháp gia cường bảo vệ hiệu quả khả năng chịu lực của nền đất tự nhiên bên dưới. Độ lún của nền đất tự nhiên dưới khối đắp gia cường chỉ là $S_{2-t} = 4.62\text{ cm}$, giảm tới 59% so với mức lún $11.27\text{ cm}$ ở trường hợp không gia cường. Khi chịu tải trọng đầm nén của xe lu 10 tấn, độ lún nén của nền đường gia cường chỉ đạt $19\text{ cm}$ (so với $26\text{ cm}$ ở nền không gia cường), giúp tổng độ lún toàn phần giảm từ $63\text{ cm}$ xuống còn $51\text{ cm}$ (giảm 19.05%).

Thứ ba, các chỉ tiêu cơ lý về độ chặt và dung trọng khô của đất đắp được cải thiện rõ rệt. Sau 6 tháng tự cố kết, độ chặt $K$ của nền gia cường tăng 2.8% và dung trọng khô tăng 2.58% so với nền không gia cường. Sau khi hoàn tất công tác lu lèn cơ giới, độ chặt của nền gia cường đạt mức $K = 0.95$, cao hơn 5.5% so với mức $K = 0.90$ của nền đắp thông thường.

Thứ tư, phân tích tài chính khẳng định tính khả thi kinh tế vượt trội của phương án gia cường trên toàn bộ vòng đời thi công. Mặc dù chi phí thi công 1 km nền đất đắp gia cường đệm cát và vải địa kỹ thuật là 557.658.000 đồng (cao hơn 97.4% so với chi phí 282.399.000 đồng của phương án không gia cường), nhưng nhờ nền móng vững chắc, chi phí thi công kết cấu mặt đường bên trên đã giảm từ 2.138.000.000 đồng xuống 1.741.000.000 đồng. Tổng kinh phí xây dựng hoàn thiện tuyến đường gia cường là 2.298.658.000 đồng/km, tiết kiệm được 121.741.000 đồng/km (tương đương giảm 5.03% tổng mức đầu tư) so với phương án không gia cường (2.420.399.000 đồng/km).

Thảo luận kết quả

Cơ chế hoạt động của kết cấu gia cường được giải thích thông qua sự thay đổi cơ bản về sơ đồ thoát nước trong khối đất đắp. Ở phương án không gia cường, lượng nước lỗ rỗng thoát ra trong quá trình nén ép trọng lực chủ yếu thấm thẳng đứng xuống nền đất tự nhiên bên dưới, làm bão hòa nước và suy giảm nghiêm trọng sức kháng cắt của tầng đất đáy. Ngược lại, lớp đệm cát dày 5 cm đóng vai trò như một tầng thấm ngang có hệ số thấm cực lớn, thu gom toàn bộ lượng nước cố kết và dẫn thoát nhanh chóng ra hai mái taluy và bề mặt.

Vải địa kỹ thuật không dệt với kích thước lỗ lọc $O_{90} = 0.12\text{ mm}$ giữ vai trò màng lọc ngăn cách tuyệt đối, triệt tiêu hiện tượng bùn sét mịn xông lấn gây tắc nghẽn tầng cát, duy trì lưu lượng thấm liên tục $170\text{ l/m}^2/\text{giây}$. Đồng thời, sức kháng kéo của vải địa ($9.0\text{ kN/m}$) tạo ra hiệu ứng neo giữ, hạn chế biến dạng trượt ngang của khối đắp khi xe lu 10 tấn tác dụng tải trọng động.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Yang và cộng sự (2015) cũng như Abdi và cộng sự (2009) khi khẳng định lớp vật liệu hạt thô kẹp giữa vải địa kỹ thuật giúp gia tăng tương tác ma sát tiếp xúc và sức chịu tải của đất sét yếu. Toàn bộ dữ liệu quan trắc lún khi biểu diễn trên đồ thị bán logarit đều cho thấy sự đồng quy tuyến tính chặt chẽ, chứng minh tính tin cậy cao của mô hình tính toán lún cố kết trong điều kiện thi công thực tế tại Kiên Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá kinh tế - kỹ thuật, các đề xuất ứng dụng được cụ thể hóa như sau:

Thứ nhất, Sở Giao thông Vận tải tỉnh Kiên Giang và các ban quản lý dự án cấp huyện cần áp dụng ngay công nghệ gia cường Sandwich (hai lớp vải địa kỹ thuật không dệt khối lượng $125\text{ g/m}^2$ kẹp lớp đệm cát dày 5 cm) vào các dự án nâng cấp đường giao thông nông thôn ven sông giai đoạn 2024–2026. Mục tiêu hướng tới là rút ngắn 25–27% thời gian chờ lún cố kết và tiết kiệm tối thiểu 5% tổng mức đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông cấp V, cấp VI.

Thứ hai, các đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu thi công phải bắt buộc chuẩn hóa quy trình xử lý bùn nạo vét thông qua biện pháp phơi đất tự nhiên tối thiểu 180 ngày (6 tháng) trên bờ lưu không. Biện pháp này giúp hạ độ ẩm tự nhiên từ 55.4% về ngưỡng độ ẩm thi công cơ giới, triệt tiêu nguy cơ sụt lún mái taluy trong quá trình máy đào vận hành gạt bờ bao.

Thứ ba, Bộ Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng các tỉnh Tây Nam Bộ cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật thi công đầm nén phân tầng đất bùn gia cường với chiều dày mỗi lớp rải không vượt quá 0.5 m. Quy trình đầm nén phải sử dụng lu tĩnh kết hợp lu rung tải trọng 10 tấn nhằm đảm bảo toàn bộ chiều sâu khối đắp đạt độ chặt thiết kế $K \ge 0.95$.

Thứ tư, các tổ chức tư vấn giám sát địa kỹ thuật cần triển khai hệ thống quan trắc lún tách biệt giữa biến dạng nội tại của khối đất đắp ($S_{1-t}$) và độ lún của nền đất tự nhiên dưới đáy đắp ($S_{2-t}$) trong suốt chu kỳ 180 ngày. Việc kiểm soát độc lập này giúp đánh giá chính xác thời điểm kết thúc lún cố kết để tiến hành thảm mặt đường, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng nứt gãy mặt đường sau khi đưa vào khai thác.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hướng dẫn thực hành giá trị cho các nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là các kỹ sư thiết kế và chuyên gia tư vấn địa kỹ thuật công trình giao thông. Luận văn cung cấp toàn bộ công thức tính toán độ lún cố kết, thông số cơ lý chi tiết của bùn sét Kiên Giang và mô hình giải tích dự báo thời gian chờ lún chính xác theo hàm logarit thời gian.

Nhóm thứ tư là các nhà thầu thi công xây dựng hạ tầng giao thông và thủy lợi nông thôn. Tài liệu mô tả trực quan biện pháp tổ chức thi công thực tế từ khâu xáng cạp nạo vét, phơi đất, rải vải địa kỹ thuật, thi công đệm cát 5 cm đến quy trình lu lèn bằng xe 10 tấn đạt độ chặt $K = 0.95$.

Nhóm thứ ba là các cơ quan quản lý nhà nước như Sở GTVT, Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Ban Quản lý Dự án các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Dữ liệu so sánh kinh tế chi tiết giúp chủ đầu tư có căn cứ phê duyệt phương án tận dụng bùn nạo vét, giảm chi phí giải phóng mặt bằng và tối ưu ngân sách công.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông, Địa kỹ thuật - Địa môi trường. Đây là tài liệu tham khảo giá trị với mô hình thực nghiệm tỷ lệ thực ngoài hiện trường cùng hệ thống số liệu quan trắc 8 đợt đo đạc tin cậy.

Câu hỏi thường gặp

1. Đất bùn sét nạo vét lòng sông có thực sự đủ điều kiện làm nền đường giao thông nông thôn không?

Hoàn toàn đủ điều kiện nếu áp dụng đúng quy trình công nghệ gia cường. Mặc dù đất bùn lòng kênh Cái Lớn có độ ẩm tự nhiên cao 55.4% và thuộc nhóm đất dẻo cao OH-MH, nhưng sau 6 tháng phơi khô và kết hợp đệm cát - vải địa kỹ thuật, đất đạt độ chặt $K = 0.95$ sau lu lèn xe 10 tấn, đáp ứng tốt yêu cầu kỹ thuật nền đường cấp V và VI.

2. Cấu tạo của lớp gia cường kiểu Sandwich trong nghiên cứu gồm những thành phần nào?

Kết cấu Sandwich gồm một lớp đệm cát dày 5 cm được kẹp chặt giữa hai lớp vải địa kỹ thuật không dệt khối lượng $125\text{ g/m}^2$. Cấu trúc này tạo thành tầng thoát nước ngang hai phía, vừa ngăn hạt sét mịn kích thước nhỏ hơn 0.005 mm xâm nhập gây tắc cát, vừa tăng ma sát tiếp xúc và chống biến dạng trượt ngang cho khối đất đắp.

3. Vì sao chi phí thi công nền đắp gia cường tăng gấp đôi nhưng tổng mức đầu tư dự án lại giảm?

Dù chi phí phần nền đắp gia cường tăng từ 282.399.000 đồng lên 557.658.000 đồng/km, nhưng nhờ nền móng đạt độ chặt cao $K = 0.95$ và độ lún ổn định, kết cấu áo đường phía trên giảm đáng kể bề dày và chi phí vật liệu (giảm từ 2.138.000.000 đồng xuống 1.741.000.000 đồng/km), giúp tiết kiệm ròng 121.741.000 đồng/km.

4. Giải pháp gia cường đệm cát và vải địa kỹ thuật giúp rút ngắn thời gian thi công bao nhiêu ngày?

Nghiên cứu chứng minh đất đắp gia cường chỉ mất 132 ngày để đạt độ lún cố kết $25.73\text{ cm}$, tương đương với mức lún mà nền không gia cường phải mất 180 ngày mới đạt được. Điều này giúp rút ngắn chính xác 48 ngày thời gian chờ lún cố kết (tương đương giảm 26.7% tiến độ chờ tải).

5. Vải địa kỹ thuật không dệt sử dụng trong nghiên cứu cần đáp ứng những thông số kỹ thuật nào?

Vải địa kỹ thuật không dệt cần đạt khối lượng riêng $125\text{ g/m}^2$, bề dày $1.5\text{ mm}$, cường độ chịu kéo dọc tối thiểu $9.0\text{ kN/m}$, kích thước lỗ lọc $O_{90} = 0.12\text{ mm}$ và hệ số lưu lượng thấm đạt $170\text{ l/m}^2/\text{giây}$ ở 100 mm cột nước nhằm đảm bảo khả năng tiêu thoát nước và chống xói ngầm hiệu quả.

Kết luận

  • Đất bùn sét nạo vét lòng sông hoàn toàn có thể tái sử dụng làm nền đường giao thông nông thôn khi được gia cường bằng đệm cát và vải địa kỹ thuật, đạt độ chặt $K = 0.95$.
  • Giải pháp gia cường dạng Sandwich rút ngắn 48 ngày thời gian chờ lún cố kết (từ 180 ngày xuống 132 ngày) nhờ tối ưu hóa đường thấm ngang.
  • Độ lún của nền đất tự nhiên dưới khối đắp giảm mạnh 59% (từ $11.27\text{ cm}$ xuống còn $4.62\text{ cm}$), giúp khống chế tổng độ lún toàn phần ở mức $51\text{ cm}$.
  • Độ chặt và dung trọng khô của khối đất đắp tăng lần lượt 2.8% và 2.58% sau 6 tháng tự cố kết, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đầm nén cơ giới.
  • Hiệu quả tài chính tổng thể giúp tiết kiệm 121.741.000 đồng trên mỗi kilomet đường hoàn thiện, mở ra hướng đi bền vững cho hạ tầng giao thông Đồng bằng sông Cửu Long.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là đã chuẩn hóa thành công mô hình giải tích và thực nghiệm hiện trường tỷ lệ thực về ứng xử cố kết của bùn sét nạo vét gia cường đệm cát - vải địa kỹ thuật. Trong giai đoạn tiếp theo, các đơn vị quản lý cần tiến hành thử nghiệm mở rộng trên các cấp tải trọng xe lu khác nhau và theo dõi biến dạng dài hạn trong 24–36 tháng. Hãy áp dụng ngay giải pháp công nghệ này vào các đồ án quy hoạch giao thông nông thôn ven sông để tối ưu hóa chi phí đầu tư và bảo vệ bền vững tài nguyên đất đai địa phương.