Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt (Garcinia mangostana L.) ở miền Đông Nam Bộ" được tác giả Nguyễn An Đệ thực hiện và bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Khoa học Cây trồng (mã số 62 62 01 10), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Quang Hưng và TS. Bùi Xuân Khôi.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Măng cụt (Garcinia mangostana L.) thuộc họ Bứa (Guttiferae) là cây ăn quả nhiệt đới đặc sản có giá trị thương mại và dược liệu cao. Trên thế giới, diện tích măng cụt tập trung chủ yếu tại một số nước Đông Nam Á với tổng diện tích khoảng 105.000 ha và sản lượng đạt 480.000 tấn; trong đó Thái Lan chiếm 74.250 ha, Indonesia chiếm 14.109 ha, Malaysia 8.243 ha, Philippines 2.410 ha và Việt Nam có 6.328 ha (tập trung ở Nam Bộ). Riêng vùng Đông Nam Bộ có khoảng 2.500 ha phân bố chủ yếu tại Bình Dương (1.200 ha), Đồng Nai (800 ha) và Bà Rịa - Vũng Tàu (460 ha).
Tuy nhiên, canh tác măng cụt tại Đông Nam Bộ đang đối mặt với những trở ngại kỹ thuật lớn:
- Tỷ lệ ra hoa tự nhiên thấp và không ổn định qua các năm, năng suất bình quân chỉ đạt khoảng 4 tấn/ha/năm.
- Mùa vụ thu hoạch tập trung vào vụ thuận (khoảng tháng 6 – 7 dương lịch) gây áp lực tiêu thụ và hạ giá thành sản phẩm.
- Quả thu hoạch trong mùa mưa bị suy giảm chất lượng nghiêm trọng, đặc biệt là hiện tượng sượng quả (múi trong - translucent flesh disorder) chiếm tới khoảng 40% sản lượng và hiện tượng xì mủ vỏ quả (gamboge disorder) chiếm 50%. Nguyên nhân chính là do quả chín trùng mùa mưa, cây phát sinh đọt non cạnh tranh dinh dưỡng trực tiếp với quả.
Các quốc gia láng giềng như Thái Lan và Malaysia đã làm chủ công nghệ xử lý ra hoa. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo sát đơn lẻ về cắt tỉa hoặc kích thích ra hoa vụ thuận và hầu hết thực hiện tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng Đông Nam Bộ có đặc thù về đất đai (đất đỏ bazan đồi dốc và đất phù sa ven sông) cùng chế độ khí hậu nhiệt đới cận xích đạo (mùa khô bắt đầu từ tháng 11) chưa có quy trình xử lý ra hoa sớm hoàn chỉnh và đồng bộ. Do đó, việc xây dựng một giải pháp kỹ thuật giúp măng cụt ra hoa và thu hoạch sớm hơn 1 – 1,5 tháng để né mùa mưa là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được biện pháp kỹ thuật xử lý ra hoa sớm nhằm cải thiện năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất măng cụt cho vùng sinh thái Đông Nam Bộ, giúp cây ra hoa và thu hoạch sớm hơn khoảng 1,5 tháng (50 – 60 ngày) so với măng cụt ra hoa tự nhiên trong vụ thuận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu về thời điểm ra hoa, số hoa hình thành/m² tán, thời điểm thu hoạch, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất, tỷ lệ quả sượng, độ Brix thịt quả, tỷ lệ thịt quả, tỷ lệ rễ non bị chết và hiệu quả kinh tế của cây măng cụt.
- Phạm vi không gian: Vùng đất đỏ tại huyện Cẩm Mỹ và thị xã Long Khánh (tỉnh Đồng Nai); vùng đất phù sa tại huyện Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương).
- Phạm vi thời gian và cây thí nghiệm: Cây măng cụt ở giai đoạn kinh doanh có độ tuổi từ 10 đến 15 năm sau khi trồng, các thí nghiệm đồng ruộng được theo dõi qua 1 chu kỳ vụ quả trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước được điểm lại trong luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến sinh lý, kỹ thuật canh tác và điều khiển ra hoa trên cây ăn quả thân gỗ:
- Đặc điểm thực vật, sinh thái và dinh dưỡng: Nghiên cứu về nguồn gốc và phân loại của Nguyễn Văn Kế (2014), Phạm Hoàng Hộ (1999); thành phần dinh dưỡng quả và dược tính xanthone của Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (2000), Govindachari và cộng sự (1971); yêu cầu sinh thái đất đai và nhu cầu nước của Tôn Thất Trình (2000), Nguyễn Minh Châu (2003); đặc điểm nhân giống vô tính tự nhiên qua phôi bất định của Đào Thị Bé Bảy và Phạm Ngọc Liễu (2002), Hyun và cộng sự (2006).
- Kỹ thuật dinh dưỡng và phân bón: Khuyến cáo tỷ lệ bón NPKMg của Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (MARDI); liều lượng bón phân vô cơ và hữu cơ Dynamic Lifter của Huỳnh Văn Tấn và Nguyễn Minh Châu (2003); hiệu quả phân bón lá (Growmore 20-20-20, Miraclegro) của Nguyễn Xuân Trường (2000), Salekpetch (2000), Lê Thị Khỏe và cộng sự (2002a), Nguyễn An Đệ và cộng sự (2003a).
- Kỹ thuật cắt tỉa và xử lý chồi lá: Nghiên cứu tỉa cành tạo chồi mới của Yaacob (1995), Salekpetch (2000), Lê Thị Khỏe và cộng sự (2002b); mối tương quan giữa số cặp lá mới trên chồi với tỷ lệ ra hoa của Nguyễn An Đệ và cộng sự (2003b), Trần Văn Hâu (2005), Phạm Thành Lợi (2008); vai trò kích thích sinh trưởng kéo dài và nảy mầm của Gibberellin GA₃ (Lange, 1998; Malik, 2000; Lê Quang Hưng, 2004; Bùi Thị Mỹ Hồng, 2012); kích thích phân chia tế bào chồi non của cytokinin BAP (Binns, 1994; Nguyễn Thái Sơn, 2010); tác dụng của phân đạm Urea qua lá (Barker và Pilbeam, 1986; Lê Văn Dũ, 2005; Nguyễn Văn Thơ và cộng sự, 2003).
- Cơ chế phân hóa mầm hoa và cảm ứng stress: Giả thuyết điều hòa dinh dưỡng và tỷ số C/N của Beverley (2005), Camecron và Dennis (1986), Chadha và Pal (1986), Pharis và King (1985), Nakasone và Paull (1998); vai trò ức chế ra hoa của gibberellin nội sinh và cơ chế gen kiểm soát (miR172, miR156, miR169, Rht-1) của Davenport (1992), Sedgley (1990), Kobayshi và cộng sự (1996), Lenton và cộng sự (1994), Peter và Stephen (2016), Marja (2014); vai trò tích lũy Abscisic acid (ABA) và proline dưới tác động stress nước của Jacobsen và Chandler (1987), Chen và Madigan (1987), Asmann (2003), Trần Hà Tường Vi và Nguyễn Du Sanh (2014); tác động của nhiệt độ thấp mùa Giáng sinh (Wilawan và cộng sự, 1987; Nels, 2004; Othman, 2004); tác động của thời gian xiết nước gây khô hạn của Jawanda (1961), Adwirman (2006), Pongsomboon (1991), Thiwaporn và cộng sự (2011), Lê Bảo Long và Lê Văn Hòa (2008a, 2008b).
- Hóa chất điều hòa sinh trưởng thúc đẩy phân hóa và phá ngủ chồi hoa: Cơ chế sinh ethylene và làm già hóa cơ quan của Ethephon (Solano và Ecker, 1998; Wang và cộng sự, 2002; Trần Hạnh Phúc, 2000, 2013; Chacko, 1991; Hoàng Minh Tấn, 2005); cơ chế ức chế sinh tổng hợp gibberellin của Paclobutrazol (Pandey và Kishore, 1987; Trần Văn Hâu và cộng sự, 2002; Lê Bảo Long và cộng sự, 2012b); tác động thúc đẩy ra hoa của KClO₃ (Nahar và cộng sự, 2010; Manochai và cộng sự, 2005; Lê Bảo Long và cộng sự, 2012b); tác dụng kích thích bật mầm hoa của Potassium Nitrate KNO₃ (Nguyễn An Đệ và cộng sự, 2003b; Nguyễn Văn Kế, 2014).
- Hiện tượng quả sượng và sâu bệnh hại: Cơ chế rối loạn sinh lý sượng múi và xì mủ do mưa của Poonnachit và cộng sự (1990), Pankasemsuk (1996), Trần Văn Hâu và Nguyễn Mạnh Trung (2008), Nguyễn Minh Hoàng (2008); điều tra dịch hại sâu vẽ bùa, nhện đỏ, bọ trĩ và phòng trừ bằng dầu khoáng DC Tron Plus, SK Enspray của Hoàng Hữu Cư và Nguyễn Quốc Hùng (1999), Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), Nguyễn Minh Châu (2003).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết sự thiếu hụt một gói kỹ thuật đồng bộ 3 bước liên hoàn được chuẩn hóa cho điều kiện sinh thái đất đỏ và đất phù sa miền Đông Nam Bộ: (1) kích thích ra lá mới đồng loạt sau thu hoạch để tích lũy đủ 3 cơi đọt; (2) xác định ngưỡng thời gian ngưng tưới kết hợp nồng độ hóa chất ức chế sinh trưởng (phun hoặc tưới gốc) tối ưu để chuyển hóa tỷ số C/N và hạ gibberellin chồi ngọn; (3) kích hoạt ra hoa tập trung bằng KNO₃ và tưới nước trở lại, đảm bảo măng cụt thu hoạch trọn vẹn trước mùa mưa (trước ngày 28/5).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Nghiên cứu vận dụng thuyết cân bằng dinh dưỡng - phytohormone trong điều khiển ra hoa thực vật:
- Măng cụt ra hoa ở ngọn cành non; do hiện tượng rụng lá mạnh trong giai đoạn nuôi quả trước đó, cây cần tái thiết lập diện tích lá bằng 2 – 3 cơi đọt sau thu hoạch để tổng hợp carbohydrate.
- Tỷ số C/N cao và sự suy giảm hàm lượng gibberellin nội sinh là điều kiện tiên quyết kích hoạt mô phân sinh ngọn chuyển từ pha sinh trưởng dinh dưỡng sang pha sinh sản (phân hóa mầm hoa).
- Stress khô hạn nhân tạo kết hợp các chất làm chậm sinh trưởng (Paclobutrazol, Ethephon, KClO₃, MKP) thúc đẩy tích lũy ABA, giảm thế nước lá và tăng C/N.
- Tác động của chất phá ngủ chồi (KNO₃) cùng việc bù nước kích thích mầm hoa vươn dài và nở đồng loạt.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án triển khai 4 thí nghiệm diện hẹp và 1 mô hình thử nghiệm diện rộng:
TN2 & TN3: Ngưng tưới + Hóa chất phân hóa mầm hoa
(Phun lá: PBZ, MKP, Ethephon, KClO3 | Tưới gốc: PBZ, KClO3)
TN4: Kích thích ra hoa (KNO3 các nồng độ + Bù nước)
Nội dung 5: Mô hình thử nghiệm & Hoàn thiện Quy trình
- Thí nghiệm 1: Bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) tại Cẩm Mỹ (Đồng Nai) và Dầu Tiếng (Bình Dương) với 4 nghiệm thức phun hóa chất kích thích ra lá mới sau thu hoạch: Đối chứng (phun nước), BAP 20 ppm, GA₃ 50 ppm, Urea 1%.
- Thí nghiệm 2: Bố trí kiểu ô phụ (Split Plot) trên khối hoàn toàn ngẫu nhiên tại Cẩm Mỹ và Dầu Tiếng. Lô chính là 4 mức thời gian ngưng tưới nước (tưới 3 ngày/lần làm đối chứng; ngưng 20 ngày; ngưng 40 ngày; ngưng 60 ngày); lô phụ là 5 loại hóa chất phun lá (đối chứng phun nước, Paclobutrazol 1.000 ppm, MKP 0,5%, Ethephon 200 ppm, KClO₃ 1.000 ppm).
- Thí nghiệm 3: Bố trí Split Plot trong RCBD tại Cẩm Mỹ và Dầu Tiếng. Lô chính là 4 mức thời gian ngưng tưới (tưới 3 ngày/lần; ngưng 20, 40, 60 ngày); lô phụ là các mức hóa chất tưới gốc (tưới nước đối chứng; Paclobutrazol 1,0; 1,5; 2,0 g hoạt chất/m đường kính tán (ĐKT); KClO₃ 20, 30, 40 g hoạt chất/m ĐKT).
- Thí nghiệm 4: Bố trí Split Plot trong RCBD tại Cẩm Mỹ và Dầu Tiếng. Lô chính gồm 5 nghiệm thức phân hóa mầm hoa (đối chứng không hóa chất, tưới gốc PBZ 1,5 g a.i./m ĐKT, phun lá KClO₃ 1.000 ppm, phun lá MKP 0,5%, phun lá Ethephon 200 ppm); lô phụ là 4 nồng độ phun KNO₃ kích thích ra hoa (đối chứng nước 0%, KNO₃ 0,5%, KNO₃ 1,0%, KNO₃ 1,5%).
- Mô hình thử nghiệm: Triển khai tại thị xã Long Khánh (Đồng Nai) và huyện Dầu Tiếng (Bình Dương) với quy mô 1 ha tại mỗi điểm (5.000 m² lô tác động kỹ thuật đối chứng với 5.000 m² lô canh tác truyền thống của nông dân; theo dõi cố định 35 cây/lô).
Kỹ thuật phân tích và nguồn số liệu
- Lấy mẫu chồi thuần thục và lá phân tích tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Đại học Nông Lâm TP.HCM) và Phòng Thí nghiệm Phân tích Trung tâm (Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM).
- Các chỉ tiêu sinh hóa: Hàm lượng C (% trọng lượng khô), hàm lượng N (mg/100g khô), tỷ số C/N, hàm lượng gibberellin nội sinh trong chồi (ng/g tươi), hàm lượng diệp lục tố tổng số trong lá (mg/g tươi).
- Chỉ tiêu nông học và chất lượng: Thời gian xuất hiện cơi lá, số hoa/m² tán, tỷ lệ đậu quả, số ngày đến khi ra hoa/thu hoạch, năng suất quả (kg/cây), tỷ lệ quả sượng (%), độ Brix (%), tỷ lệ rễ non bị chết (%).
- Xử lý số liệu: Phân tích phương sai (ANOVA), so sánh trung bình nghiệm thức theo trắc nghiệm DUNCAN ở mức ý nghĩa p < 0,05, và hồi quy tương quan tuyến tính bằng phần mềm SAS (Statistical Analysis Systems).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng hợp các cơ sở lý luận và thực tiễn về cây măng cụt, phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên miền Đông Nam Bộ và cơ chế sinh lý của sự ra hoa. Tác giả chỉ ra rằng đất đỏ miền Đông Nam Bộ có tầng canh tác dày nhưng địa hình đồi dốc dễ thoát nước; đất phù sa ven sông màu mỡ nhưng dễ bị ẩm độ ngầm cao. Về mặt khí hậu, mùa khô xuất hiện từ tháng 11 là điều kiện ngoại cảnh thích hợp để tạo stress nước. Việc tổng hợp tài liệu khẳng định sự ra hoa của măng cụt cần đáp ứng 3 giai đoạn sinh lý liên hoàn: phải có cơi lá mới thuần thục để tạo nguồn đồng hóa, phải có sự suy giảm gibberellin và tăng C/N nhờ khô hạn hoặc chất ức chế sinh trưởng, và cần tác nhân kích hoạt tưới nước kết hợp KNO₃ để chồi hoa bung nở.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết quy trình thiết kế 4 thí nghiệm diện hẹp và 1 mô hình ứng dụng quy mô lớn, địa điểm lấy mẫu, công thức pha chế và cách thức xử lý hóa chất (BAP, GA₃, Urea, Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO₃, KNO₃), phương pháp lấy mẫu đất (độ sâu 25 – 60 cm), phương pháp đo độ ẩm đất, đếm số hoa qua khung tiêu chuẩn 1 m² mặt tán, đánh giá tỷ lệ sượng múi và phân tích hiệu quả kinh tế quy đổi trên 1 ha.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Nội dung 1: Thí nghiệm 1 - Ảnh hưởng của GA₃, BAP và Urea đến sự ra lá mới trên cây măng cụt
- Xử lý phun lá sau thu hoạch bằng BAP (20 ppm), GA₃ (50 ppm) hoặc Urea (1%) đều giúp cây hình thành được 3 đợt lá mới trong năm, trong khi đối chứng không phun chỉ hình thành được 2 đợt lá.
- Nghiệm thức phun BAP 20 ppm kích thích chồi lá đợt 1, 2 và 3 xuất hiện sớm nhất và có mật độ chồi lá/m² mặt tán cao nhất ở cả 2 địa điểm.
- Tỷ số C/N trong chồi thuần thục trước khi ra hoa ở các nghiệm thức có xử lý hóa chất đạt giá trị cao hơn có ý nghĩa so với đối chứng. Tác giả đã thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính chặt chẽ giữa số hoa hình thành/m² tán ($Y$) và tỷ số C/N trong chồi ($X$):
- Tại Cẩm Mỹ (Đồng Nai): $Y = 1,5926X - 12,016$ ($R^2 = 0,947$)
- Tại Dầu Tiếng (Bình Dương): $Y = 1,7516X - 13,729$ ($R^2 = 0,9509$)
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh hóa và sinh trưởng trong Thí nghiệm 1
| Nghiệm thức xử lý |
Số đợt lá mới trong vụ |
Tỷ số C/N chồi thuần thục (Cẩm Mỹ) |
Tỷ số C/N chồi thuần thục (Dầu Tiếng) |
Số hoa hình thành/m² tán (Cẩm Mỹ) |
Số hoa hình thành/m² tán (Dầu Tiếng) |
| Đối chứng (Phun nước) |
2 đợt |
Thấp |
Thấp |
Thấp (đối chứng) |
Thấp (đối chứng) |
| BAP (20 ppm) |
3 đợt |
Cao nhất |
Cao nhất |
Cao nhất |
Cao nhất |
| GA₃ (50 ppm) |
3 đợt |
Trung bình |
Trung bình |
Khá |
Khá |
| Urea (1%) |
3 đợt |
Khá |
Khá |
Khá |
Khá |
Nội dung 2: Thí nghiệm 2 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và hóa chất phun lá đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa
- Khi cơi lá đợt 3 đạt 40 ngày tuổi (xử lý ngày 20/11):
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 60 ngày kết hợp phun Paclobutrazol 1.000 ppm đạt số hoa/m² tán, số quả/cây và năng suất cao nhất.
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 40 ngày kết hợp phun Ethephon 200 ppm cho tỷ lệ quả bị sượng thấp nhất.
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 40 ngày kết hợp phun Paclobutrazol 1.000 ppm mang lại thời gian thu hoạch sớm nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất: cây ra hoa sớm hơn 52 ngày, thu hoạch sớm hơn 56 ngày, số hoa/m² tăng 16,97% và năng suất tăng 58,58% so với đối chứng.
Nội dung 3: Thí nghiệm 3 - Ảnh hưởng của thời gian ngưng tưới nước và hóa chất tưới gốc đến sự phân hóa mầm hoa và ra hoa
- Khi cơi lá đợt 3 đạt 40 ngày tuổi (xử lý ngày 16/11):
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 60 ngày kết hợp tưới Paclobutrazol 2,0 g a.i./m ĐKT cho số hoa hình thành nhiều nhất.
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 20 ngày kết hợp tưới Paclobutrazol 2,0 g a.i./m ĐKT cho độ Brix thịt quả cao nhất.
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 60 ngày kết hợp tưới KClO₃ 40 g a.i./m ĐKT làm tỷ lệ rễ non bị chết cao nhất, gây ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng bộ rễ.
- Nghiệm thức ngưng tưới nước 40 ngày kết hợp tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT đạt hiệu quả toàn diện nhất: ra hoa sớm hơn 44 ngày, thu hoạch sớm hơn 57 ngày, số hoa tăng 24,92%, năng suất tăng 158,93% so với đối chứng và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nội dung 4: Thí nghiệm 4 - Ảnh hưởng của hóa chất phân hóa mầm hoa và nồng độ phun KNO₃ đến khả năng ra hoa
- Xử lý tưới PBZ làm giảm đáng kể hàm lượng gibberellin nội sinh trong chồi thuần thục so với đối chứng không xử lý hóa chất.
- Tại Dầu Tiếng, phun MKP 0,5% không phun KNO₃ cho hàm lượng N trong chồi thấp nhất.
- Tại Cẩm Mỹ, phun MKP 0,5% kết hợp phun KNO₃ 1,5% đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất.
- Nghiệm thức tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT sau đó phun KNO₃ 1,0% mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất: giúp cây ra hoa sớm hơn 55 ngày, thu hoạch sớm hơn 55 ngày, số hoa hình thành tăng 35,89% và năng suất tăng 25,48% so với đối chứng.
Nội dung 5: Kết quả mô hình thử nghiệm và hoàn thiện quy trình kỹ thuật
Mô hình thử nghiệm diện rộng tại Long Khánh (Đồng Nai) và Dầu Tiếng (Bình Dương) áp dụng quy trình kỹ thuật 3 bước:
- Bước 1: Phun BAP (20 ppm) sau thu hoạch để kích thích hình thành 3 đợt lá mới đồng loạt.
- Bước 2: Khi đợt lá thứ 3 đạt 40 ngày tuổi, tưới gốc Paclobutrazol (1,5 g a.i./m ĐKT) kết hợp ngưng tưới nước 40 ngày nhằm thúc đẩy phân hóa mầm hoa.
- Bước 3: Phun KNO₃ (1,0%) lên tán kết hợp tưới nước đẫm trở lại để kích thích bung mầm hoa đồng loạt.
Bảng so sánh kết quả mô hình kỹ thuật xử lý ra hoa sớm và đối chứng nông dân
| Chỉ tiêu theo dõi |
Lô tác động tại Long Khánh |
Lô đối chứng tại Long Khánh |
Lô tác động tại Dầu Tiếng |
Lô đối chứng tại Dầu Tiếng |
| Thời gian ra hoa sớm hơn |
59 ngày |
0 (vụ thuận) |
57 ngày |
0 (vụ thuận) |
| Thời gian thu hoạch sớm hơn |
56 ngày |
0 (vụ thuận) |
55 ngày |
0 (vụ thuận) |
| Thời điểm kết thúc thu hoạch |
28/5 (trước mùa mưa) |
Tháng 6 – 7 (mùa mưa) |
28/5 (trước mùa mưa) |
Tháng 6 – 7 (mùa mưa) |
| Số hoa hình thành/m² tán |
Tăng 16,68% |
Mức nền nông dân |
Tăng 18,58% |
Mức nền nông dân |
| Năng suất thu hoạch |
Tăng 9,24% |
Mức nền nông dân |
Tăng 10,54% |
Mức nền nông dân |
| Tỷ lệ quả bị sượng (%) |
13,13% |
21,45% |
14,08% |
23,81% |
| Lợi nhuận tăng thêm (triệu đ/ha/vụ) |
+124,79 triệu |
0 |
+127,56 triệu |
0 |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
- Đã phân tích và chứng minh được quy luật biến đổi sinh hóa trong mô chồi cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ: hàm lượng gibberellin nội sinh giảm mạnh khi tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT, kết hợp với sự gia tăng tỷ số C/N sau khi tạo được 3 đợt lá mới bằng BAP 20 ppm là cơ chế then chốt quyết định sự phân hóa mầm hoa sớm.
- Xác lập được 2 phương trình hồi quy tuyến tính mô tả định lượng mối quan hệ giữa số hoa hình thành/m² mặt tán với tỷ số C/N trong chồi thuần thục trên 2 vùng đất đại diện (đất đỏ Cẩm Mỹ: $R^2 = 0,947$; đất phù sa Dầu Tiếng: $R^2 = 0,9509$).
- Làm rõ tác động của các hóa chất điều hòa sinh trưởng (BAP, GA₃, Urea, Paclobutrazol, MKP, Ethephon, KClO₃, KNO₃) đến các chỉ tiêu sinh lý lá, chồi và rễ cây măng cụt; chỉ ra rằng tưới gốc KClO₃ ở nồng độ cao (40 g a.i./m ĐKT) kết hợp ngưng tưới 60 ngày gây chết rễ non nghiêm trọng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xây dựng hoàn chỉnh Quy trình kỹ thuật xử lý ra hoa sớm cho cây măng cụt ở miền Đông Nam Bộ gồm 3 công đoạn chính xác về thời điểm và liều lượng:
- Phun BAP 20 ppm sau thu hoạch kích thích ra 3 cơi đọt.
- Tạo khô hạn (ngưng tưới) 40 ngày kết hợp tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT khi cơi đọt 3 đạt 40 ngày tuổi.
- Phun KNO₃ 1% và tưới nước trở lại để kích thích ra hoa đồng loạt.
- Ứng dụng quy trình giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 57 – 59 ngày, thu hoạch sớm hơn 55 – 56 ngày (hoàn thành trước ngày 28/5), né tránh mùa mưa, giảm tỷ lệ sượng quả từ 21,45 – 23,81% xuống còn 13,13 – 14,08%, tăng năng suất 9,24 – 10,54% và gia tăng lợi nhuận thuần từ 124,79 đến 127,56 triệu đồng/ha/vụ so với tập quán canh tác truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Các thí nghiệm đồng ruộng và mô hình chỉ mới được theo dõi, đánh giá qua 1 chu kỳ vụ quả (từ năm 2013 đến năm 2016).
- Chưa tiến hành phân tích và theo dõi mức độ lưu tồn, tích lũy của hoạt chất Paclobutrazol trong đất cũng như ảnh hưởng tồn dư lâu dài của hóa chất này đối với sinh trưởng của cây măng cụt qua nhiều năm liên tục.
- Phạm vi nghiên cứu mới tập trung trên cây măng cụt ở độ tuổi từ 10 đến 15 năm và trên 2 loại đất chủ yếu (đất đỏ và đất phù sa), chưa khảo sát trên các nhóm tuổi cây khác hoặc các vùng sinh thái đất xám, đất phèn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi tác động liên tục của quy trình xử lý ra hoa sớm qua nhiều năm liên tiếp trên cùng một vườn cây nhằm đánh giá độ ổn định năng suất và tuổi thọ cây măng cụt.
- Phân tích dư lượng Paclobutrazol trong đất, trong mô thực vật và quả măng cụt theo thời gian nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường đất canh tác.
- Mở rộng thử nghiệm quy trình kỹ thuật trên các nhóm tuổi cây khác nhau và các tiểu vùng sinh thái khác tại miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Khoa học Cây trồng, Nông học, Sinh lý thực vật: Luận án cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về động thái phytohormone (gibberellin), tỷ số C/N, diệp lục tố và phương pháp bố trí thí nghiệm ô phụ (Split Plot) chuẩn mực trong điều khiển ra hoa cây ăn quả thân gỗ nhiệt đới.
- Đối với cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp: Luận án cung cấp quy trình kỹ thuật 3 bước rõ ràng, dễ áp dụng vào thực tiễn chỉ đạo sản xuất cây ăn quả tại các địa phương vùng Đông Nam Bộ.
- Đối với nhà vườn canh tác măng cụt: Quy trình xử lý ra hoa sớm cung cấp giải pháp kỹ thuật cụ thể giúp né vụ thu hoạch rộ trong mùa mưa, giảm tỷ lệ quả sượng, nâng cao giá bán thương phẩm và gia tăng lợi nhuận trên mỗi hecta canh tác.
Câu hỏi thường gặp
1. Hóa chất nào sau thu hoạch giúp măng cụt hình thành 3 đợt lá mới sớm nhất và hiệu quả nhất?
Kết quả Thí nghiệm 1 xác nhận việc phun BAP ở nồng độ 20 ppm sau thu hoạch giúp cây hình thành 3 đợt lá mới sớm nhất và có mật độ chồi lá mới trên 1 m² mặt tán cao nhất so với GA₃ (50 ppm), Urea (1%) và đối chứng phun nước. Cây có 3 cơi đọt mới đạt tỷ số C/N trong chồi thuần thục cao hơn có ý nghĩa, tạo tiền đề cho việc phân hóa mầm hoa.
2. Biện pháp xử lý thúc đẩy phân hóa mầm hoa nào đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và an toàn cho bộ rễ?
Biện pháp kết hợp ngưng tưới nước 40 ngày và tưới gốc Paclobutrazol ở liều lượng 1,5 g a.i./m đường kính tán khi cơi đọt 3 đạt 40 ngày tuổi mang lại hiệu quả cao nhất (năng suất và lợi nhuận cao nhất). Biện pháp này không gây hại rễ, trong khi xử lý KClO₃ liều cao (40 g a.i./m ĐKT) kết hợp ngưng tưới 60 ngày làm tăng tỷ lệ chết rễ non của cây măng cụt.
3. Nồng độ phun KNO₃ nào tối ưu nhất để kích thích măng cụt ra hoa sau khi đã xử lý phân hóa mầm hoa?
Kết quả Thí nghiệm 4 cho thấy sau khi tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT, xử lý phun KNO₃ ở nồng độ 1,0% kết hợp tưới nước trở lại cho hiệu quả kinh tế cao nhất, giúp cây ra hoa sớm hơn 55 ngày, thu hoạch sớm hơn 55 ngày, số hoa hình thành tăng 35,89% và năng suất tăng 25,48% so với đối chứng.
4. Quy trình xử lý ra hoa sớm mang lại lợi ích cụ thể gì trong mô hình thử nghiệm diện rộng?
Tại Long Khánh (Đồng Nai) và Dầu Tiếng (Bình Dương), mô hình kỹ thuật giúp măng cụt ra hoa sớm hơn 57 – 59 ngày, thu hoạch sớm hơn 55 – 56 ngày và kết thúc toàn bộ việc thu hoạch vào ngày 28/5 (trước mùa mưa). Nhờ đó, tỷ lệ quả sượng giảm mạnh từ 21,45 – 23,81% xuống còn 13,13 – 14,08%, năng suất tăng 9,24 – 10,54% và lợi nhuận thuần tăng thêm từ 124,79 đến 127,56 triệu đồng/ha/vụ.
5. Mối quan hệ giữa tỷ số C/N trong chồi và số hoa hình thành được xác lập như thế nào?
Mối quan hệ giữa số hoa hình thành/m² mặt tán ($Y$) và tỷ số C/N trong chồi thuần thục ($X$) tuân theo hàm hồi quy tuyến tính thuận:
- Tại Cẩm Mỹ: $Y = 1,5926X - 12,016$ với hệ số tương quan $R^2 = 0,947$.
- Tại Dầu Tiếng: $Y = 1,7516X - 13,729$ với hệ số tương quan $R^2 = 0,9509$.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn An Đệ đã giải quyết thành công bài toán điều khiển ra hoa sớm cho cây măng cụt ở vùng sinh thái miền Đông Nam Bộ thông qua quy trình kỹ thuật 3 bước đồng bộ: phun BAP 20 ppm tạo 3 cơi đọt sau thu hoạch, ngưng tưới 40 ngày kết hợp tưới gốc Paclobutrazol 1,5 g a.i./m ĐKT để phân hóa mầm hoa, và kích thích bung hoa bằng KNO₃ 1,0% cùng chế độ bù nước. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở sinh hóa chuẩn xác về sự biến động gibberellin và tỷ số C/N, đồng thời mang lại hiệu quả thực tiễn rõ rệt khi đưa thời điểm thu hoạch kết thúc trước mùa mưa (trước ngày 28/5), giúp giảm tỷ lệ sượng quả và gia tăng đáng kể thu nhập cho nhà vườn trên cả vùng đất đỏ và đất phù sa.