CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc 1. Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc đối với chăn nuôi Đối với cây lạc thì bộ phận sử dụng chủ yếu là hạt. Thành phần hoá học của hạt lạc như sau: Nước 8 - 10%, dầu thô (lipit): 40 - 60 %, prôtêin thô: 26 - 34%, gluxit: 6 - 22%, xenlulô: 2 - 4,5%.
Với hàm lượng dầu (lipit) và protein cao, hạt lạc là loại hạt có giá trị dinh dưỡng cao và từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Ngoài việc sử dụng để luộc, rang, nấu canh, ép dầu để làm dầu ăn thì gần đây, nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, con người đã chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như : bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc… Về mặt cung cấp năng lượng: do hạt lạc có hàm lượng dầu cao nên năng lượng cung cấp rất lớn. Trong 100g hạt lạc, cung cấp 590 calo, trong khi trị số này ở hạt đậu tương là 411, gạo tẻ là 353, thịt lợn nạc là 286, trứng vịt là 189 và cá chép là 99. Ngoài ra, khô dầu lạc, thân lá xanh còn là nguồn thức ăn giàu protein được dùng làm thức ăn cho gia súc.
Với giá trị chiếm tới 25 - 30% trong khẩu phần thức ăn gia súc, khô dầu lạc đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi. Thân lá xanh của lạc với năng suất 5 - 15 tấn/ha chất xanh (sau thu hoạch quả) có thể dùng trong chăn nuôi đại gia súc. Mặt khác, người ta có thể lấy vỏ quả lạc rồi đem nghiền thành cám đề dùng cho chăn nuôi. Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cám gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp đều rất tốt.
Như vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏ quả lạc để làm thức ăn gia súc, góp phần quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi [2]. Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt Lạc không những cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, mà nó còn có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh cố định đạm và các bộ phận thân, lá, rễ của cây. Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng đặc biệt là: cộng sinh với loài vi khuẩn Rhizobium virgna có khả năng sử dụng nitơ phân tử ở khí trời. Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều đạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể.
Lạc là đối tượng cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh của hệ thống trồng trọt. Việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng đối với các loại cây trồng này. Ngoài ra, lạc có bộ tán dày, có khả năng che phủ tốt, nên có khả năng làm giảm mức độ xói mòn của đất, nâng cao độ phì đất, bảo vệ đất, đặc biệt trong mùa mưa [13]. Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa đã rút ra được những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: đưa các cây họ đậu vào luân canh với lúa, giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất.
Ngô Đức Dương (1984) [12] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khi luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH đất tăng, lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đều tăng. Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [9] khi so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức luân canh có lạc Xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả n 6 đồng vốn đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất. Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở vụ Xuân như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụ Xuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác. Từ đó có thể thấy, lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là với các công thức luân canh nền lúa và trồng lạc trong vụ Xuân cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác cùng thời vụ.
Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới. Cây lạc là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam.
Hiện nay, cây lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2 sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu/ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Tên nước 2009 2010 2011 2009 2010 2011 2009 2010 2011 Thế Giới 23,93 25,30 21,78 1,52 1,66 1,77 36,45 41,89 38,61 Ấn Độ 5,47 5,94 4,19 1.00 1,39 1,65 5,42 8,26 6,93 Trung Quốc 4,40 4,55 4,67 3,36 3,45 3,45 14,76 15,70 16,11 Nigeria 2,64 2,79 2,34 1,12 1,36 1,26 2,98 3,79 2,96 Senegal 1,05 1,19 0,86 0,97 1,07 0,60 1,03 1,28 0,52 Châu Mỹ 0,98 1,01 0,99 2,95 3,09 3,06 2,90 3,13 3,04 Indonesia 0,62 0,62 0,54 1,25 1,25 1,28 0,77 0,78 0,70 Việt Nam 0,24 0,23 0,22 2,08 2,10 2,08 0,51 0,49 0,46 Nguồn: Faostat, http://faostat.org [28] Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng lạc của các nước trên trên thế giới đều có xu hướng giảm dần. Chỉ riêng Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạc tăng liên tục năm 2011 tăng (0,27 triệu ha) so với năm n 7 2009. Ấn Độ có diện tích trồng lạc năm 2011 chiếm (4,19 triệu ha) giảm (1,28 triệu ha) so với 2009.
Nigeria diện tích tăng năm 2009 và 2010 tuy nhiên tốc độ tăng chậm, nhưng đến năm 2011 lại giảm (0,3triệu ha) so với 2009. Senegal diện tích năm 2011 (0,86 triệu ha) giảm so với 2010 (0,33 triệu ha) và (0,19 triệu ha) so với năm 2009. Với Châu Mỹ có diện tích trồng lạc nhỏ, năm 2009 (0,98 triệu ha) năm 2010 có sự tăng diện tích (0,02 triệu ha) so với năm 2011. Indonesia là nước có diện tích trồng lạc giảm liên tục qua các năm từ 2009 đến 2011 tính đến năm 2011 đã giảm (0,08 triệu ha) so với 2009.
Điều đó chứng tỏ cây lạc không được chú trọng đầu tư mở rộng diện tích ở đây. Ở Việt Nam diện tích cây lạc cũng giảm liên tục, năm 2009 diện tích chiếm 1,0% tổng diện tích trồng lạc thế giới. Đến năm 2010 diện tích lại giảm (0,01 triệu ha) so với năm 2009. Năm 2011 lúc này diện tích của Việt Nam chiếm 1,01% tổng diện tích trồng lạc thế giới.
Giai đoạn từ 2009 - 2011, năng suất lạc thế giới hầu như không tăng, chỉ dao động từ (1,52 tấn/ha đến 1,77 tấn/ha). Chứng tỏ trong giai đoạn gần đây không có biến động nào lớn trong sản xuất làm thay đổi năng suất. Các nước có năng suất lạc tăng đó là: Ấn Độ, Indonesia. Trong đó năng suất tăng nhiều nhất là Ấn Độ năm 2011 tăng (0,65 tấn/ha) so với năm 2009.
Các nước có năng suất tăng, giảm không ổn định là: Nigeria, Senegal, Châu Mỹ. Trong đó Nigeria năm 2011 giảm (0,1 tấn/ha) so với năm 2010. Về Senegal năm 2011 giảm (0,37 tấn/ha) so với năm 2009. Còn Châu Mỹ năng suất lạc năm 2011 cũng giảm (0,11 tấn/ha) so với năm 2009.
Ở các nước này, sản xuất lạc sớm được đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và sớm có những thành công vượt trội. Tuy nhiên, giai đoạn này đang bị chững lại. Ở Việt Nam năng suất giai đoạn này tăng giảm không đáng kể, năm 2011giảm (0,02 tấn/ha) so với 2010. Sản lượng lạc thế giới năm 2011 giảm (3,28 triệu tấn) so với năm 2010 tăng (2,16 triệu tấn) so với năm 2009.
Sản lượng giảm không phải do năng suất lạc giảm mà chủ yếu do diện tích trồng lạc giảm. Trung Quốc là nước có sản lượng lạc lớn. Tuy những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫn luôn chiếm vị trí đứng đầu thế giới đạt (16,11 triệu tấn) trong năm 2011, trong khi sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt (0,46 triệu tấn). n 8 Tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất.
Rõ ràng rằng, tiềm năng to lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể được khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng. Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều nên năng suất còn thấp. Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích lạc tăng bình quân (7%/năm), sản lượng tăng (9%/năm).
Từ năm 1990 - 1995, sản xuất lạc tăng cả về diện tích và sản lượng, song năng suất còn thấp, chỉ đạt khoảng (1 tấn/ha). Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc tăng rõ rệt, năng suất đạt gần (1,5 tấn/ha). Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [6], sự biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn: Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ (97,1 ngàn ha) năm 1976, xuống còn (91,8 ngàn ha) năm 1979, giảm bình quân (2,0%/năm).