Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng trung du tỉnh Nghệ An

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng trung du tỉnh nghệ an, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Khoa học Cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

250
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Kỹ thuật canh tác sắn

Nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật canh tác sắn nhằm nâng cao năng suất sắn và đảm bảo canh tác sắn bền vững. Các biện pháp kỹ thuật được đề xuất bao gồm việc lựa chọn giống sắn phù hợp, điều chỉnh thời vụ trồng, và áp dụng phương pháp canh tác hiệu quả. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý đất đaibảo vệ môi trường để duy trì độ phì nhiêu của đất.

1.1. Lựa chọn giống sắn

Nghiên cứu đã xác định giống sắn 13Sa05 là giống phù hợp nhất cho vùng trung du Nghệ An. Giống này có năng suất cao (48,24 - 52,14 tấn/ha) và hàm lượng tinh bột cao (28,78 - 28,98%). Giống 13Sa05 đã được công bố lưu hành và được khuyến nghị sử dụng rộng rãi.

1.2. Thời vụ trồng

Thời vụ trồng sắn được khuyến nghị là đầu tháng 2, giúp tối ưu hóa điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây sắn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc trồng đúng thời vụ giúp giảm thiểu rủi ro do thời tiết bất lợi và tăng năng suất sắn.

II. Canh tác sắn bền vững

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp canh tác sắn bền vững nhằm đảm bảo phát triển nông nghiệp lâu dài. Các biện pháp này bao gồm việc cải thiện chất lượng đất, sử dụng phân bón hợp lý, và áp dụng kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong quá trình canh tác.

2.1. Cải thiện chất lượng đất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện chất lượng đất thông qua bón phân hữu cơ và luân canh cây trồng giúp tăng độ phì nhiêu của đất. Điều này không chỉ cải thiện năng suất sắn mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

2.2. Sử dụng phân bón hợp lý

Nghiên cứu đã xác định các công thức phân bón tối ưu cho giống sắn 13Sa05. Việc sử dụng phân bón dựa trên chẩn đoán dinh dưỡng qua phân tích lá cây sắn giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón và giảm chi phí sản xuất.

III. Phát triển nông nghiệp bền vững

Nghiên cứu đóng góp vào phát triển nông nghiệp bền vững tại vùng trung du Nghệ An thông qua việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật hiệu quả. Các biện pháp này không chỉ giúp tăng năng suất sắn mà còn đảm bảo bảo vệ môi trườngquản lý đất đai bền vững.

3.1. Quản lý đất đai

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý đất đai trong canh tác sắn bền vững. Các biện pháp như chống xói mòn, bảo vệ đất khỏi rửa trôi, và duy trì độ phì nhiêu của đất được khuyến nghị.

3.2. Bảo vệ môi trường

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình canh tác sắn, bao gồm việc sử dụng phân bón hữu cơ, giảm thiểu sử dụng hóa chất, và áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp thân thiện với môi trường.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng trung du tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây trồng giàu tinh bột được trồng và tiêu thụ rộng rãi ở các vùng nhiệt đới của châu Phi (50%), châu Á (30%) và châu Mỹ Latinh (20%). Sắn là cây cung cấp lương thực, thực phẩm và thu nhập đáng kể cho người nông dân nghèo.

Trên toàn thế giới có ít nhất 800 triệu người sử dụng sắn hằng ngày; trong số này, có khoảng 500 triệu người ở châu Phi cận Sahara. Trên thực tế, diện tích trồng sắn dự kiến sẽ tăng, điều này chứng tỏ tầm quan trọng và vị trí cây sắn trong nền nông nghiệp thế giới. Các nước trồng sắn trên thế giới, 2019 (FAOSTAT, 2020) [121] Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với sản lượng năm 2020 sẽ đạt 193,6 triệu tấn. Khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%.

Châu Mỹ La tinh giai đoạn 1993 - 2020, ước tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hằng năm là 1,3%, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 - 0,96%. Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía. Theo số liệu thống kê của FAOSTAT, diện tích sắn châu Á năm 2020 đạt 3.740 6 nghìn ha, chiếm 13,2 % diện tích sắn toàn thế giới, sản lượng 81,86 triệu tấn chiếm 27,04% sản lượng sắn trên toàn thế giới; năng suất sắn trung bình năm 2020 đạt 21,9 tấn/ha, cao gấp đôi so với năng suất sắn trung bình thế giới [121]. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới năm 2020 Chỉ tiêu STT Tên nước Diện tích Năng suất Sản lượng (1.662,5 Nguồn: FAOSTAT-2021 [121] Theo FAOSTAT sản lượng sắn trên thế giới đã tăng đáng kể kể từ năm 2001, với sản lượng đạt đỉnh 293,01 triệu tấn vào năm 2015.

Năm 2020, sản lượng sắn thế giới ước tính đạt khoảng 302,662 triệu tấn, trong đó Nigeria tuy có năng suất trung bình khá thấp chỉ đạt 7,75 tấn/ha, nhưng là nước có diện tích và sản lượng sắn lớn nhất với trên 7,7 triệu ha nên sản lượng đạt được rất cao trên 60 triệu tấn, chiếm 19,8% sản lượng sắn trên thế giới; Uganda là nước có diện tích sản xuất sắn thấp 1,5 triệu ha, nhưng năng suất bình quân cả cả nước cao nhất thế giới 33,34 tấn/ha, sản lượng cũng xếp thứ 2 thế giới đạt 42,1 triệu tấn, chiếm 13,9% sản lương sắn thế giới; các nước tiếp theo là Thái Lan chiếm 9,6%, Ghana chiếm 7,2%, Brazin chiếm 6,0% sản lượng sắn trên thế giới. Năng suất trung bình sắn trên toàn thế giới thấp 7 chỉ đạt 10,72 tấn/ha, trong đó năng suất cao nhất ở Uganda (33,34 tấn/ha), thấp nhất ở Mozambique (6,68 tấn/ha) [121]. Năm 2019, thị trường sắn toàn cầu tăng 0,4% lên 164,1 tỷ USD (IndexBox ước tính), tăng năm thứ ba liên tiếp sau hai năm suy giảm. Tốc độ tăng trưởng rõ rệt nhất vào năm 2014 với mức tăng 7,8% so với cùng kì năm 2013.

Theo đó mức tiêu thụ đạt cao nhất là 172,1 tỷ đô la. Từ năm 2015 - 2019, tăng trưởng của thị trường toàn cầu vẫn ở mức thấp hơn [122]. Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu. Địa điểm chính tại tỉnh Quảng Tây.

Về nhập khẩu sắn lát: trong năm 2020, nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc đạt 782,85 triệu USD, tăng 22% so với năm 2019. Thái Lan, Việt Nam, Campuchia và Lào là 4 thị trường cung cấp sắn lát lớn nhất cho Trung Quốc, trong đó, Việt Nam là thị trường lớn thứ 2 cung cấp sắn lát cho Trung Quốc trong năm 2020 với 95,91 triệu USD, tăng 90,8% so với năm 2019, thị phần sắn lát của Việt Nam chiếm 12,25% trong tổng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc, tăng mạnh so với mức 7,83% của năm 2019. Về nhập khẩu tinh bột sắn: cũng trong năm 2020, Trung Quốc nhập khẩu tinh bột sắn đạt 2,75 triệu tấn, trị giá 1,13 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và tăng 9,7% về trị giá so với năm 2019, chủ yếu nhập khẩu từ Thái Lan, Việt Nam, Lào và Campuchia. Việt Nam là thị trường lớn thứ 2 cung cấp tinh bột sắn cho Trung Quốc, với 982,48 nghìn tấn, trị giá 388,76 triệu USD, tăng 30,4% về lượng và tăng 24,9% về trị giá so với năm 2019; Trung Quốc cũng tăng nhập khẩu tinh bột sắn của Thái Lan với 1,69 triệu tấn, trị giá 708,29 triệu USD, tăng 8,3% về lượng và tăng 1,9% về trị giá so với năm 2019.

Thị phần tinh bột sắn của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2020 chiếm 35,64%, tăng so với mức 31,73% của năm 2019; trong khi thị phần tinh bột sắn của Thái Lan chiếm 61,32%, giảm so với mức 65,73% của năm 2019 [125]. Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam Ở Việt Nam cây sắn có khả năng thích nghi cao và được trồng tập trung ở 8 khắp các vùng sinh thái nông nghiệp, nhưng tập trung chủ yếu tại 4 vùng chính: Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với tổng diện tích sắn của 4 vùng này (2020) chiếm khoảng 98,2% diện tích sắn của cả nước, tương đương 513,3 nghìn ha, sản lượng tương ứng là 10,3 triệu tấn, chiếm 98,7% tổng sản lượng sản toàn quốc; trong đó vùng trồng lớn nhất là Bắc Trung bộ - Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên diện tích tương ứng chiếm 30,2% và 32,6% tổng diện tích sắn cả nước sản lượng tương ứng đạt 3.160 nghìn tấn (30,1%) và 3. Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ dân nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Sắn được trồng rộng rãi từ Bắc tới Nam, diện tích năm 2018 cả nước đạt 513,0 nghìn ha, sản lượng hơn 9,8 triệu tấn giảm so với 2016 do sự bùng phát của dịch khảm lá vi rút (CMD).

Năm 2019, diện tích sản xuất sắn của cả nước đạt 519,3 nghìn ha, tăng 1,23% so với năm 2018; sản lượng đạt 10.224 tấn chiếm 4% tổng sản lượng sắn trên toàn thế giới, tăng 2,62% so với năm 2018, giảm 7,37% so với 3 năm trước, 1,03% so với 5 năm trước; năng suất trung bình 19,45 tấn/ha, tăng 0,26% so với năm 2018 [51]. Diện tích năm 2020 đạt 524,4 nghìn ha, sản lượng hơn 10,4 triệu tấn chiếm 4,1% tổng sản lượng sắn trên toàn thế giới, tăng 2,98% so với năm 2019, năng suất trung bình 20 tấn/ ha, tăng 1,95% so với năm 2019 [52]. Vùng Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung diện tích trồng sắn năm 2020 đạt 158,6 nghìn ha (chiếm 30,24% diện tích cả nước), sản lượng đạt 3.812 tấn củ tươi (chiếm 30,1% sản lượng sản cả nước); diện tích sắn lớn tại các tỉnh Bình Thuận, Nghệ An, Quảng Ngãi, Phú Yên. Vùng Tây Nguyên có diện tích trồng sắn năm 2020 đạt 170,9 nghìn ha (chiếm 32,58% diện tích sản cả nước), sản lượng đạt 3.186 tấn củ tươi (chiếm 30,81% sản lượng sắn toàn quốc), sắn trồng nhiều ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và Đắk Nông.

Diện tích, sản lượng sắn phân theo vùng sinh thái của Việt Nam từ 2015 - 2020 Vùng sản xuất Diện tích (1.000 ha) Sản lượng (1.000 tấn) 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Cả nước 567,9 569,9 532,6 513,0 518,9 524,4 10.487,8 Trung du MN phía Bắc 117,1 114,6 105,9 101,2 98,2 94,4 1.206,7 Đồng bằng sông Hồng 1,8 1,6 1,2 1,0 4,1 3,3 34,9 31,8 22,9 21,5 65,1 55,8 Bắc Trung Bộ - Duyên 171,3 174,5 156,8 151,8 156,9 158,6 3.160,8 hải miền Trung Tây Nguyên 156,8 155,4 153,8 157,6 163,0 170,9 2.232,2 Đông Nam Bộ 104,5 107,8 99,6 89,9 90,0 91,2 2.752,7 Đồng bằng sông Cửu 3,0 3,4 3,9 2,9 6,0 5,7 62,1 70,1 74,7 61,3 105,8 7,7 Long Nguồn: Niên giám thống kê năm 2015-2020 [48], [49], [50], [51], [52]. 10 Vùng Đông Nam bộ có diện tích trồng sắn năm 2020 nước đạt 91,2 nghìn ha (chiếm 17,39% diện tích cả nước), năng suất đạt 30,2 tấn/ ha cao nhất nước và sản lượng ước đạt 2.686 tấn củ tươi (chiếm 26,26% sản lượng của cả nước); diện tích sắn trồng nhiều ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương. Theo số liệu thống kê năm 2019 [51], diện tích trồng sắn cả nước đạt 519,3 nghìn ha, sản lượng 10,1 triệu tấn; trong đó: Gia Lai là địa phương có diện tích trồng sắn lớn nhất cả nước (73,9 nghìn ha), sản lượng sắn 1,5 triệu tấn chiếm 15% sản lượng sắn cả nước, tiếp đến là một số các tỉnh có diện tích trồng sắn lớn gồm: Tây Ninh (52,3 nghìn ha), Đắk Lắk (39,7 nghìn ha), Kon Tum (38,2 nghìn ha), Sơn La (37 nghìn ha), Phú Yên (27,9 nghìn ha), … Việt Nam hiện có trên 105 nhà máy chế biến tinh bột sắn quy mô công nghiệp (2018) với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm, có 7 nhà máy chế biến cồn và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rải rác tại các vùng trồng sắn. So với 5 năm trước đây, con số này tăng gấp đôi về số lượng nhà máy và gấp 3 lần về công suất.

Thị trường tiêu thụ sắn và tinh bột sắn chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc (chiếm trên 92% tổng kim ngạch xuất khẩu), còn lại là các thị trường khác như Đài Loan, Philippines, Malaysia và Indonesia [125]. Trong năm 2020, dịch Covid -19 đã khiến ngành sắn Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, xuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn đã lấy lại đà tăng trưởng sau khi dịch bệnh được kiểm soát và trở thành một trong số ít mặt hàng nông sản có giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng dương. Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã thống kê: khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 12/2020 là 330 nghìn tấn và giá trị đạt 118 triệu USD; khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn cả năm 2020 đạt 2,76 triệu tấn tăng 9% so với năm 2019 và giá trị xuất khẩu đạt 989 triệu USD tăng 2,4% so với năm 2019.

Giá xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn bình quân năm 2020 ước đạt 358,3 USD/tấn, giảm 6% so với năm 2019 [124].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững tại vùng trung du Nghệ An" trình bày các phương pháp canh tác sắn hiệu quả nhằm nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân áp dụng các kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất sắn mà còn góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững tại khu vực trung du Nghệ An. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc cải thiện chất lượng sản phẩm, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm sắn trên thị trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn áp dụng biện pháp phòng chẩn đoán điều trị bệnh cho đàn gia súc gia cầm tại xã bình minh thanh oai hà nội, nơi cung cấp thông tin về chăn nuôi gia súc. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện ba vì tỉnh hà tây sẽ giúp bạn hiểu thêm về phát triển chăn nuôi bền vững. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tốt nghiệp khảo sát đặc tính sinh trưởng và tính năng sản xuất của cỏ sả panicum maximum với các mức độ phân bón khác nhau, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loại cỏ và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp canh tác và chăn nuôi bền vững.