CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ 1.1 Biến động đường bờ ở Việt Nam 1.1 Một số khái niệm Bờ (shore) là đới nằm giữa mép nước lúc thủy triều thấp và giới hạn trên của tác động sóng có hiệu quả, thông thường được mở rộng đến chân vách biển. Nó bao gồm bờ trước (foreshore) được lộ ra lúc thủy triều thấp và bị ngập tại lúc thủy triều cao, và bờ sau (backshore) được mở rộng về phía lục địa kể từ giới hạn thủy triều cao bình thường, nhưng vẫn bị ngập khi thủy triều đặc biệt cao hoặc do sóng lớn khi có bão [17]. Đường bờ ngoài (shoreline) là mép nước chuẩn dịch chuyển ra vào theo thủy triều lên xuống. Đường bờ trong (coatsline) chỉ ra lục địa ở mức thủy triều cao sóc hoặc rìa phía biển của các cồn cát hoặc vùng đất khô.
Bãi biển (beach) là một tích tụ trầm tích bở rời, như cát, cuội sỏi hoặc tảng, đôi khi nằm tại bờ sau, nhưng thường mở rộng qua cả bờ nước. Một số bãi mở rộng xuống dưới tới mực thủy triều thấp. trên các bãi cuội bãi đá thường được mài mòn tốt. Bờ biển (coast) là một đới có chiều rộng thay đổi bao gồm bờ (shore) và đới gần bờ được kéo ra phía ngoài ít nhất tới đường sóng vỡ và được mở rộng về phía lục địa tới giới hạn thâm nhập ảnh hưởng của biển: đỉnh vách biển, đỉnh cửa sông (estuary) có thủy triều, hoặc vùng đất nhô cao phía sau vùng đất thấp ven bờ, hoặc cồn cát, đầm phá và đầm lầy.
Bởi thế, bờ là đới, mà ở đó lục địa, biển và không khí (thạch quyển, thủy quyển và khí quyển) gặp nhau và tương tác với nhau. Nó là đối tượng cho một loạt các quá trình, bao gồm chuyển động kiến tạo (nâng lên hạ xuống) của rìa lục địa, những thay đổi về mực nước biển, ảnh hưởng của thủy triều, sóng và dòng chảy 5 trong biển, cũng như sự thay đổi về nhiệt độ, áp suất và tác động gió trong khí quyển. Một số bờ biển được tạo ra chủ yếu bởi xói lở, và một số bờ khác lại bởi tích tụ [12, 17]. Biến động đường bờ đó là sự thay đổi vị trí đường bờ theo không gian và thời gian.
Có hai dạng một là biến đổi đường bờ do quá trình tích tụ: hiện tượng đường bờ biển lấn dần ra phía biển. Còn quá trình xói lở: hiện tượng đường bờ biển lấn dần về phía lục địa và có hai hiện tượng xói lở: xói lở bãi và xói lở đường bờ. Biến động bờ biển tự nhiên bao gồm xói lở bãi cũng như vùng đất ven biển và tích tụ trầm tích để tạo ra một vùng đất mới là một hiện tượng tự nhiên trong quá trình tiến hóa vùng bờ biển. Nó xảy ra sau những thay đổi về mực nước biển tương đối, khí hậu và các nhân tố khác trên những quy mô thời gian - không gian khác nhau từ các sự kiện theo thời gian địa chất đến các hiện tượng cực đoan trong khoảng thời gian ngắn.
Nó cũng có thể được làm tăng lên bởi các hoạt động của con người hoặc là ngay tại bờ, hoặc trên các lưu vực sông lân cận bờ biển. Biến động địa hình bờ biển, đặc biệt là do xói lở bờ, có tác động rất lớn đến các cộng đồng dân cư và các hệ sinh thái ven bờ trên toàn thế giới. Nghiên cứu biến động địa hình bờ biển, thực chất, là nghiên cứu các quá trình địa mạo bờ nhằm tìm ra những đặc điểm hình thái và động lực hiện nay, lịch sử tiến hóa trong quá khứ và dự báo xu hướng phát triển của nó trong tương lai. Cũng như trên đất liền, hoạt động của các quá trình địa mạo ở bờ biển được biểu hiện cụ thể ở sự hình thành một dạng địa hình nào đó (quá trình xây dựng - tích tụ) hoặc ở sự phá hủy một thành tạo địa hình khác (quá trình phá hủy - xói lở) dưới tác động của rất nhiều nhân tố động lực khác nhau từ phía biển cũng như từ phía lục địa, cả các nhân tố tự nhiên cũng như các tác động 6 của con người.
Xói lở và bồi tụ là hai mặt đối lập trong một quá trình địa mạo gây nên tình trạng biến đổi hình thái bờ biển. Trong mấy chục năm gần đây, trên khắp thế giới, hiện tượng xói lở bờ biển đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng và chiếm ưu thế hơn hẳn so với bồi tụ và được các quốc gia có biển, các tổ chức khoa học và nhiều nhà khoa học quan tâm. Ngày nay, nhiều nước, nhiều nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học đều thừa nhận rằng, các kết quả nghiên cứu biến động địa hình (nghĩa là các quá trình địa mạo) cả trên đất liền cũng như ở bờ biển là một trong những nguồn tài liệu quan trọng để xây dưng quy hoạch phát triển và quản lý môi trường đới bờ biển [12, 17].2 Biến động đường bờ ở một số khu vực phía Nam, Việt Nam Thiên tai xảy ra ở nước ta nói chung và dải ven biển cửa sông nói riêng trong vài thập niên qua, ngày một gia tăng cả tần suất lẫn cường độ. Dải ven biển cửa sông Việt Nam là dải đất hẹp trải dài trên 3260 km với hàng trăm cửa sông lớn nhỏ, trung bình cứ 20 km bờ biển có 1 cửa sông đổ ra biển.
Đây là vùng đất mới, có vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú và tài nguyên, môi trường rất nhạy cảm và biến động mạnh. Mặc dù chỉ chiếm dưới 15% diện tích tự nhiên, song dải ven biển cửa sông nước ta là nơi tập trung những công trình dân cư với mật độ dân số cao (gấp gần 1,5 lần mật độ dân số cả nước); các công trình dân sinh kinh tế quan trọng như cảng biển, các đô thị vừa và lớn, là nơi tập trung nhiều nguồn lực phát triển của đất nước (lãnh thổ của 3 vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam và 24 trong tổng số 58 khu công nghiệp đã được cấp phép xây dựng). Người dân sống ở dải ven biển cửa sông luôn phải đối mặt với thiên tai, bao gồm bão lũ, nước dâng, xói lở, bồi tụ, cát bay, cát chảy, sa bồi thuỷ phá [15]. Dải ven biển Nam Bộ từ tp.
Hồ Chí Minh đến Kiên Giang với chiều dài bờ biển khoảng 774 km, là vùng đất đa dạng về sinh học, với nhiều ngành 7 nghề phát triển như: nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp và du lịch…Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Qua điều tra, thống kê các tài liệu lịch sử, tổng hợp kết quả của các nghiên cứu, cho thấy biến động hình thái dải ven biển khu vực này hết sức phức tạp [9].1: Biến động đường bờ ở khu vực bờ biển phía Nam, Việt Nam [9] STT Xã Huyện Tỉnh Chiều dài (m) Diện tích (m2) 1 Long Hóa Cần Giờ TP Hồ Chí Minh 400 748000 2 Lý Nhơn Cần Giờ TP Hồ Chí Minh 400 1072000 3 Lý Nhơn Cần Giờ TP Hồ Chí Minh 400 1151000 4 Thạch An Cần Giờ TP Hồ Chí Minh 1000 6786000 5 Tân Thanh Gò Công Đông Tiền Giang 750 750000 6 Tân Điền Gò Công Đông Tiền Giang 1700 3400000 7 Vòm Lang Gò Công Đông Bến Tre 175 175000 8 Thanh Phước Bình Đại Bến Tre 200 743000 9 Thanh Phước Bình Đại Bến Tre 200 363000 10 Thừa Đức Bình Đại Bến Tre 800 3865000 11 Bảo Thạch Ba Tri Bến Tre 500 1718000 12 Thanh Hải Thanh Phú Bến Tre 1000 11780000 13 Đại An Trà Cú Trà Vinh 180 551900 14 My Long Cầu Ngang Trà Vinh 200 614800 15 My Long Cầu Ngang Trà Vinh 300 495100 16 Long Hóa Duyên Hải Trà Vinh 600 4230000 17 Long Vinh Duyên Hải Trà Vinh 400 2436500 18 Đông Hải Duyên Hải Trà Vinh 500 1665000 10 Hiệp Thanh Duyên Hải Trà Vinh 400 1357000 20 Trung Bình Long Phú Sóc Trăng 400 2263000 21 Trung Bình Long Phú Sóc Trăng 500 2026000 22 Vĩnh Hải Vĩnh Châu Sóc Trăng 400 3173000 23 Gành Hào Gia Rai Bạc Liêu 300 1844000 8 24 Tân Thuận Đầm Dơi Cà Mau 1100 540000 25 Tân Tiến Đầm Dơi Cà Mau 700 612000 26 Nguyễn Huân Đầm Dơi Cà Mau 900 865000 27 Tam Giang Ngọc Hiển Cà Mau 1400 14980000 28 Tam Giang Ngọc Hiển Cà Mau 1000 16610000 29 Tân An Ngọc Hiển Cà Mau 1100 15930000 30 Thuận An Hà Tiên Kiên Giang 200 400000 31 Bình An Hà Tiên Kiên Giang 30 60000 Tổng cộng 124105700 m2 Ở một số đoạn bờ biển như: bờ biển Gò Công tỉnh Tiền Giang, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, Hiệp Thạnh tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng, Gành Hào tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau, xói lở diễn ra khá nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của các tuyến đê biển vốn được xem là lá chắn hữu hiệu trước những tác động bất lợi từ biển (bảng 1. Căn cứ vào vị trí địa lý, đơn vị hành chính, có thể phân chia thành đường bờ biển thành các khu vực như sau [9]: Khu vực ven biển huyện Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh: Trong khoảng thời gian từ 1965÷1989, diễn biến bờ biển Cần Giờ diễn ra xói lở bồi tụ xen kẽ, riêng khu vực mũi Đông Hoà (phía tây), mũi Cần Giờ (phía đông) bị xói lở mạnh với tốc độ xói lở đạt khoảng 10÷20 m/năm.
Sau khi hệ thống công trình đập mỏ hàn và kè chắn sóng, gây bồi được xây dựng năm 1995, xói lở bờ biển nơi đây về cơ bản đã được khống chế. Đây là một trong số ít các công trình bảo vệ bờ biển xây dựng trong những năm qua đạt mục tiêu chống xói lở tốt, tuy vậy việc trồng lại rừng ngập mặn chưa đạt hiệu quả cao. Khu vực bờ biển huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang 9 Đoạn bờ biển này được giới hạn bởi hai cửa sông Soài Rạp và cửa Tiểu có tổng chiều dài khoảng 17 km. Trong khoảng thời gian từ năm 1965÷2010 hiện tượng xói lở xảy ra trên hầu hết đoạn bờ biển này, tốc độ xói lở khoảng 10÷30 m/năm tùy theo vị trí, theo thời gian mức độ xói lở ngày càng nhanh hơn.
Hệ quả là rừng phòng hộ trước tuyến đê biển đã bị thu hẹp dần, cho đến năm 2000 thì đã có trên 3 km thuộc khu vực xã Tân Thành rừng đã hoàn toàn biến mất, biển đã xâm thực vào đến tận chân đê.