Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan suy thận mạn 1. Định nghĩa Theo KDIGO, bệnh thận mạn tính được định nghĩa là tình trạng tổn thương cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài ≥3 tháng. Chẩn đoán bệnh thận mạn dựa vào 1 trong 2 tiêu chuẩn sau tồn tại kéo dài trên 3 tháng.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thận mạn - Albumin niệu (albumin nước tiểu 24 giờ ≥30mg/24h hoặc tỉ lệ Albumin/creatinin ≥30mg/g). Dấu chứng tổn - Bất thường tổng phân tích nước tiểu. thương thận - Rối loạn điện giải hoặc các bất thường khác do bệnh (1 hoặc nhiều) lý ống thận. - Bất thường về mô bệnh học thận.
- Bất thường về cấu trúc phát hiện bằng hình ảnh học - Tiền căn ghép thận. Giảm độ lọc cầu GFR <60ml/ph/1,73m2 da thận Nguồn: KDIGO 2012 [39] Suy thận mạn giai đoạn cuối là tình trạng suy giảm nặng chức năng thận, biểu hiệu bằng mức lọc cầu thận giảm dưới 15ml/phút/1,73m2 [39]. Phân giai đoạn Năm 2002, NKF-KDOQI phân bệnh thận mạn thành 5 giai đoạn dựa vào eGFR. Đến năm 2012, KDIGO phân giai đoạn 3 thành 3a và 3b, bổ sung giá trị albumin niệu vào bảng phân giai đoạn nhằm hỗ trợ việc đánh giá tiên lượng và theo dõi diễn tiến của bệnh, hướng dẫn tần suất khám bệnh mỗi năm.
Phân giai đoạn và tiên lượng bệnh thận mạn theo KDIGO 2012 Albumin niệu kéo dài Tỉ lệ Albumin/creatinin (mg/g) A1 A2 A3 Bình Tăng Tăng thường trung nhiều đến tăng bình nhẹ < 30 30-300 >300 Bình thường G1 ≥90 1 1 2 hoặc tăng Phân G2 Giảm nhẹ 60-89 1 1 2 loại theo G3a Giảm nhẹ đến 45-59 1 2 3 eGFR trung bình (ml/ph/ Giảm trung bình G3b 30-44 2 3 3 1.73m2 đến nặng da) G4 Giảm nặng 15-29 3 3 4+ G5 Suy thận <15 4+ 4+ 4+ Nguồn: KDIGO 2012 [39] Có nhiều công thức tính mức lọc cầu thận, nhưng hiện nay, công thức CKD-EPI được khuyến cáo sử dụng trên lâm sàng, đặc biệt ở đối tượng bệnh nhân có bệnh thận mạn. Công thức CKD-EPI [39]: MLCT = 141 x min (sCr/k,1)α x max(sCr/k,1)-1,209 x 0,993tuổi x1,018 (nếu là nữ); x1,159 (nếu là người da màu) 5 Trong đó: MLCT: mức lọc cầu thận (ml/phút/1,73m2 da) sCr: nồng độ creatinin máu (mg/dl) k: nữ = 0,7; nam = 0,9; α: nữ = -0,329; nam = -0,411 min: số nhỏ nhất của sCr/k hoặc 1 max: số lớn nhất của sCr/k hoặc 1 1. Dịch tễ Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của đái tháo đường và tăng huyết áp, tỷ lệ bệnh nhân suy thận mạn cũng ngày càng gia tăng theo. Suy thận mạn giai đoạn cuối đang trở thành gánh nặng y tế toàn cầu, đòi hỏi chi phí điều trị khổng lồ.
Tính đến năm 2016, tỷ lệ bệnh thận mạn trên toàn thế giới ở tất cả các giai đoạn trung bình khoảng 13,4% (CI 95% 11,7–15,1%), số bệnh nhân cần được điều trị thay thế thận ước lượng vào khoảng 4902 đến 7083 triệu người [35], [42]. Kết quả một nghiên cứu năm 2018 ghi nhận tỷ lệ bệnh thận mạn ở Trung Quốc trung bình khoảng 11,9%, ở Mỹ khoảng 12,9% [55]. Ở nước ta, theo nghiên cứu của Võ Tam (2004), tỷ lệ bệnh nhân suy thận mạn khoảng 0,92% [10]. Theo Nguyễn Văn Tuấn và cộng sự (2015) nghiên cứu về tình hình suy thận mạn tại một số vùng dân cư ở Nghệ An, ghi nhận tỷ lệ suy thận mạn chung là 1,042% [17].
Theo khảo sát của Nguyễn Thị Thuỳ Trang (2020), tổng chi phí ngoài dịch vụ y tế của bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối khám bệnh ngoại trú là 1.690 đồng, đối với điều trị nội trú là 3.110 đồng, trong đó chiếm tỷ trọng nhiều nhất là thu nhập bị mất của người đi cùng chăm sóc với 38,51% [13]. Như vậy, tỷ lệ bệnh nhân suy thận mạn tại nước ta ở mức tương đối cao và không ngừng gia tăng theo thời gian. Đồng thời, chi phí điều trị bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cũng rất cao. Nguyên nhân Bệnh cầu thận Bệnh thận mạn do nguyên nhân bệnh cầu thận chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%, tỷ lệ này giảm ở các nước có nền công nghiệp phát triển.
Các bệnh cầu thận gồm: bệnh cầu thận nguyên phát (viêm cầu thận sau nhiễm liên cầu khuẩn, viêm cầu thận tiến triển nhanh, viêm cầu thận mạn nguyên phát), bệnh cầu thận thứ phát (bệnh thận đái tháo đường, bệnh hệ thống, xơ cứng bì, bệnh nhiễm bột, đa u tủy xương…) [9]. Bệnh ống kẽ thận Liên quan đến nhiễm trùng: viêm thận – bể thận mạn, chiếm khoảng 30% số bệnh nhân bệnh thận mạn. Không do nhiễm trùng: viêm thận kẽ do thuốc, do tăng acid uric máu…[9], [18]. Bệnh mạch máu thận Xơ, hẹp động mạch thận, huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch thận… Bệnh thận bẩm sinh, di truyền Gồm các bệnh lý: bệnh thận đa nang di truyền, loạn sản thận, hội chứng Alport, hội chứng thận hư bẩm sinh… Ngoài ra, có tỷ lệ rất thấp bệnh nhân mắc bệnh thận mạn không rõ nguyên nhân [9], [18].
Trong những nguyên nhân kể trên, đái tháo đường, tăng huyết áp là những nguyên nhân hàng đầu gây suy thận mạn giai đoạn cuối [35]. Vai trò của beta2-microglobulin ở bệnh nhân suy thận mạn Cấu trúc, tổng hợp và chuyển hóa beta2-microglobulin Cấu trúc: Beta 2- Microglobulin (β2M) là một thành phần của phân tử phức hợp hòa hợp miễn dịch chính, có mặt trên tất cả các tế bào có nhân. Nó là một polypeptit gồm 100 axit amin đường kính 60 Ao và mang điện tích âm. Tổng hợp: β2M được các tế bào trong cơ thể tổng hợp với mức 50-200 mg mỗi ngày, lọc tại cầu thận với mức lọc khoảng 210 µg/phút, và 99,9% tái 7 hấp thu ở ống lượn gần.
β2M bình thường có trong huyết thanh với mức < 2 mg/l, trọng lượng phân tử 11800 dalton, được xếp vào nhóm các chất thải qua nước tiểu có trọng lượng phân tử mức trung bình. Chuyển hóa: Bình thường β2M ở dạng tự do, là chất không có hoạt tính sinh học. Thải trừ: β2M được thải trừ qua thận, tái hấp thu gần hoàn toàn ở ống lượn gần. Biến đổi nồng độ β2M ở bệnh nhân suy thận mạn Nồng độ β2M huyết thanh tăng cao trong nhiều bệnh lý thận như : viêm cầu thận cấp và mạn tính, thận đa nang, tổn thương thận do tăng huyết áp, bệnh thận do đái đường…Bài tiết β2M qua nước tiểu tăng khi có tổn thương ống thận.
Tích lũy β2M liên quan đến bệnh thoái hóa dạng tinh bột ở người. Tổn thương thần kinh ngoại vi do lắng đọng β2M ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ biểu hiện bởi rối loạn cảm giác chủ quan dưới dạng dị cảm bắt đầu ở các chi như tê cóng, rần rần, rát bỏng, châm chích, cân đối hai bên. Rối loạn vận động xuất hiện chậm hơn rối loạn cảm giác và rối loạn thần kinh thực vật. Các biện pháp làm giảm nồng độ β2M Ở bệnh nhân STMTGĐC, làm giảm β2M chúng ta sử dụng các biện pháp lọc máu là chính, đặc biệt bằng lọc máu với máy siêu lọc HDF online.
Điều trị bệnh thận mạn Tuỳ theo từng giai đoạn bệnh thận mạn, cần lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp nhằm đạt các mục tiêu: làm chậm tối đa tốc độ tiến triển bệnh thận mạn, ngăn ngừa đợt cấp, dự phòng và điều trị biến chứng, kiểm soát tốt yếu tố nguy cơ tim mạch và các bệnh đi kèm, và nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân [9], [18]. Trong giai đoạn sớm, bệnh nhân bệnh thận mạn được áp dụng các biện pháp điều trị bảo tồn như: chế độ ăn hạn chế đạm, điều trị tăng huyết áp, điều trị thiếu máu, dự phòng các rối loạn canxi phốt pho, điều trị tăng acid uric máu, 8 tránh các thuốc gây độc cho thận. Trong giai đoạn cuối của bệnh thận mạn cần thiết phải phối hợp giữa điều trị bảo tồn và các biện pháp điều trị thay thế thận nhằm kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân [9], [40]. Các biện pháp điều trị thay thế thận gồm: ghép thận, lọc màng bụng và lọc máu bằng thận nhân tạo.
Các biện pháp lọc máu bằng thận nhân tạo: hiện nay đa số các trung tâm lọc máu áp dụng biên pháp thận nhân tạo thường quy (HD) sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp hoặc cao và thẩm tách siêu lọc (HDF) có sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc rất cao. - Thận nhân tạo thường quy (HD): đây là biện pháp loại bỏ chất thải dựa vào hiện tượng khuếch tán là chủ yếu, phân tử đi từ nơi có nồng độ cao (máu bệnh nhân) sang nơi có nồng độ thấp (dịch lọc) qua màng bán thấm. Màng lọc sử dụng trong biện pháp thận nhân tạo thường quy thường là màng lọc với hệ số siêu lọc thấp, (Kuf <10 ml/h/mmHg), do vậy chỉ loại bỏ tốt nước dư thừa và các chất phân tử nhỏ tan trong nước. - Thẩm tách siêu lọc máu (HDF): là sự kết hợp của 2 nguyên lý khuyếch tán và đối lưu, giúp loại bỏ sạch các chất trong phân tử nhỏ (ure, creatinin,…) và một số chất trọng lượng phân tử trung bình (như Beta2- Microglobulin).
Biện pháp HDF-offline sử dụng dịch bổ sung pha sẵn, dịch bù có thể truyền trước màng (predilution) hoặc sau màng (postdilution). Biện pháp HDF-online sử dụng dịch bù bổ sung do máy thận nhân tạo tự pha chế, dịch bù được lấy trực tiếp (online) từ dịch lọc và có thể truyển trước hoặc sau màng lọc như HDF-offline. Do sử dụng dịch bù trực tiếp do máy pha chế nên số lượng dịch nhiều hơn, hiệu quả đối lưu cao hơn, chi phí thấp hơn so với HDF-offline [50], [54]. So sánh lọc máu thường quy (HD) với thẩm tách siêu lọc máu (HDF) và thẩm tách siêu lọc máu bù dịch trực tiếp (HDF-Online) Đặc điểm HD HDF HDF-OL Đối lưu tăng cường + Nguyên lý Khuyếch tán Đối lưu + Khuyếch tán Khuyếch tán Màng lọc Low-flux High-flux High-flux Khả năng Trọng lượng Trọng lượng phân tử Trọng lượng phân tử thanh thải các phân tử nhỏ nhỏ, trung bình đến lớn nhỏ, trung bình đến lớn chất Dịch pha từ Dịch lọc siêu sạch.
Số Dịch lọc siêu sạch. Số Dịch lọc nước RO lượng hạn chế lượng không hạn chế - Không chí nhiệt tố, số Không chí nhiệt tố, số Dịch bù lượng có hạn lượng không hạn chế Giá thành Thấp Cao Thấp hơn so với HDF Nguồn: Blankestijn P. Biện pháp HDF-Online sử dụng màng lọc màng lọc dòng đối lưu cao (high-flux), có hiệu suất cao (high-efficiency) với: - KUF >15ml/h/mmHg, tốt nhất là KUF ≥ 50 ml/h/mmHg - KoA urea > 600 ml/phút - Độ thanh thải β2-microglobulin > 60 ml/phút - Diện tích màng lớn 1,5-2,1 m2 (Kuf: hệ số siêu lọc, là số ml nước siêu lọc được trong khoảng thời gian 1 giờ dưới tác dụng của 1mmHg áp lực xuyên màng; KoA: hệ số vận chuyển một chất hòa tan qua màng).