Đặt vấn đề Trung Quốc hiện nay noi lên như là một nền kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Để có được tăng trưởng như vậy, Trung Quốc đã và đang tiến hành 2 công cuộc cải cách, mở cửa toàn diện. Cùng với công cuộc cải cải cách sâu rộng về kinh tế, văn hóa, xã hội, Trung Quốc cũng không ngừng cải cách thé chế chính trị với mục tiêu xây dựng nền chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do đó, hiện tượng Trung Quốc đã thu hút được nhiều học giả quốc tế quan tâm nghiên cứu về Trung Quốc, nhất là nghiên cứu về cải cách thé chế chính trị.
Bởi chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc có những điểm đặc sắc mà ở các nước Chủ nghĩa Xã hội khác không có, thể hiện ở chỗ: Trung Quốc không áp dụng thé chế “tam quyền phân lập” giống như nhiều quốc gia thực hiện, mà thực hiện chế độ “nghị hành hợp nhất” tức chỉ sự thống nhất thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội; nó không giống như nhiều nước trên thế giới hiện nay là thực thi chế độ đa đảng, cũng không như số ít quốc gia thực hiện chế độ một đảng, mà nó thực hiện chế độ hợp tác nhiều Đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một đặc sắc nữa của chế độ chính trị Trung Quốc, đó là chế độ nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Ủy ban quân sự quốc gia, nhằm tạo sự đồng thuận cao nhất trong chỉ đạo và hoạt động của thé chế chính trị. Thực tế, thê chế chính trị Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong lãnh đạo, đưa quốc gia phát triển ngày một phon vinh như hiện nay, đặc biệt mục tiêu hướng tới thực hiện xây dựng Trung Quốc trở thành xã hội phát triển và tới khi Trung Quốc kỷ niệm 100 năm thành lập, Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội, văn minh dân chủ giàu mạnh và thực hiện giấc mộng Trung Hoa trở thành cường quốc.' Liên hệ với Việt Nam, cũng đang trên con đường đôi mới phương thức tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, cần thiết phải có những tham khảo kinh nghiệm của các nước thực hiện cải cach di trước. Do vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về cải cách thé chế chính trị ở Trung Quốc là rất cần thiết đối với Việt Nam, bởi Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng, có mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử lâu đời, nên cùng có tác động và ảnh hưởng lẫn nhau.
Hai nước lại có nhiều điểm tương đồng: đều là nước theo chế độ chính trị Xã hội Chủ nghĩa, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đặc biệt Việt Nam cũng tiến hành đổi mới sau Trung Quốc 8 năm (Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách * Tổng tập văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thữ 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nxb Nhân dân, tr.22 (rh[El‡k7> RATAREARRASRAILM, ARM, 22 Wl. ) 3 năm 1978, Việt Nam bat đầu tiến hành đổi mới năm 1986). Do đó, đề tài “Nghiên cứu sự biến đổi hệ thông chính trị của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay” có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn. Mục tiêu Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu trong nước và ngoài nước, đề tài nhằm làm rõ một số nội dung là: Thứ nhát, đề tài phân tích, làm rõ thực trạng hệ thống chính trị và cuộc cải cách hệ thống chính tri cua Trung Quốc từ năm 1978 thông qua một số nội dung, như: Đặc điểm của hệ thống chính trị Trung Quốc; Những thành tố của hệ thống chính trị Trung Quốc; Quá trình cải cách hệ thống chính tri.
Thứ hai, làm rõ những biến đổi của hệ thống chính trị Trung Quốc về: Triết lý nền tảng; Tư duy lãnh đạo; Tổ chức bộ máy Nhà nước; Cơ chế giám sát; Cơ chế ban hành quyết sách và chế độ nhân sự cán bộ; Chế độ bầu cử. Thứ ba, đánh gia được những thành tựu, han chế của hệ thống chính trị của Trung Quốc hiện nay và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Dé nghiên cứu các nội dung trên, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như: Phương pháp nghiên cứu phân tích, tong hợp nhằm làm rõ sự biến đổi của hệ thống chính trị Trung Quốc trên các nội dung: triết lý nền tảng; tư duy lãnh đạo; tô chức bộ máy Nhà nước; cơ chế giám sát, vận hành quyền lực; cơ chế ban hành quyết sách và chế độ nhân sự cán bộ; chế độ bầu cử. Tác giả cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu logic-lịch sử đề làm rõ quá trình cải cách thể chế chính trị Trung Quốc trải qua 4 giai đoạn và chủ yếu thực hiện cải cách các nội dung cơ bản, như: cải cách và hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản; hoàn thiện chế độ Đại hội đại biểu nhân dân (như Quốc hội); cải cách bộ máy hành chính; cải cách thê chế tư pháp; hoàn thiện chế độ Hiệp thương chính trị và hợp tác nhiều đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trên cơ sở đó, đánh giá thành tựu đạt được: Một là, trong hoạt động vĩ mô của quyên lực chính trị, thâm quyền của hiến pháp đã được cải thiện, mức độ thể chế hóa quyền lực chính trị, nhất là hoạt động quyền lực của chính 4 quyền trung ương đã phát triển đáng kể; Hai là, chức năng giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đang từng bước được tăng cường, chức năng giải trình trước công chúng báo chí cũng đang được tăng cường, nhà nước pháp quyền hành chính không chỉ được nâng cao ở tầm giá trị mà cũng có một hệ thông đầy đủ hơn; Ba là, sự phát triển của các quyền và tự do cá nhân. Chỉ ra các điểm hạn ché, đó là: tình trạng mâu thuẫn xã hội ở Trung Quốc ngày càng trầm trọng: quá trình thực thi hiệp thương dân chủ còn mang tính chủ quan của các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng và chính quyền; bộ máy hành chính céng kénh, người nhiều hơn việc, chính phủ quan lý không sâu sát, hiệu quả tinh giản cơ cau chưa cao. Ngoái ra, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh, đối chiếu dé phân tích, lý giải Việt Nam có bối cảnh và điều kiện khá tương đồng so với Trung Quốc, nhất là Trung Quốc thực hiện cải cách trước Việt Nam, do đó Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ Trung Quốc, những giá trị thảm khảo cho công cuộc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam thể hiện ở một số điểm: Thứ nhất, cần kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đây là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của cải cách thê chế chính trị; Thứ hai, xây dựng cơ chế giám sát đặc thù trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng: Thứ ba, kiên trì quan điểm “lẫy nhân dân làm trung tâm” trong quá trình cải cách thê chế chính tri. Tống kết kết quả nghiên cứu 4.
Thực trạng hệ thống chính trị và cuộc cải cách hệ thống chính trị của Trung Quốc từ năm 1978 * Đặc điểm của hệ thống chính trị Trung Quốc - Một là, Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Sau khi Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949, lần lượt soạn thảo va ban bố 4 bộ Hiến pháp Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa vào năm 1954 , năm 1975 , năm 1978 và năm 1982. Bộ Hiến pháp thứ 4 tức Hiến pháp hiện hành được thông qua và ban bố tại hội nghị lần thứ 5 Quốc hội khóa 5 diễn ra ngày 4 tháng 12 năm 1982. Bộ Hiến pháp này kế thừa và phát triển nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1954, rút kinh nghiệm phát triển chủ nghĩa xã hội Trung Quốc và thu hút kinh nghiệm quốc tế, là bộ pháp luật căn bản mang đặc sắc Trung Quốc và đáp ứng yêu cầu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Bộ Hiến pháp này quy định rõ ràng chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và phạm vi quyền hạn của các cơ quan nhà nước , nhiệm vụ căn bản của nhà nước sau này v v.
Đặc điểm căn bản là quy định chế độ căn bản và nhiệm vụ căn bản của Trung Quốc, xác định 4 nguyên tắc cơ bản (quyền dân chủ, nhân quyền cơ bản, chế ước của quyền lực, nguyên tắc pháp tri) và phương châm cơ bản của công cuộc cải cách mở cửa. Hiến pháp quy định, nhân dân các dân tộc và mọi tổ chức trong cả nước đều phải lấy Hiến pháp làm chuẩn tắc hoạt động căn bản, bat cứ tô chức hoặc cá nhân nao cũng không có đặc quyền Vượt qua Hiến pháp và các đạo luật khác. Hai là, chế độ Đại hội đại biểu nhân dân. Ché độ đại hội đại biéu nhân dân (quốc hội) là chế độ chính trị căn bản của Trung Quốc, là hình thức tô chức chính trị của nền chuyên chính dân chủ nhân dân Trung Quốc, là quốc thé của Trung Quốc.
Khác với nghị viện dưới thê chế Ba quyền đối lập, Quốc hội là cơ quan quyền lợi nhà nước tối cao được Hiến pháp Trung Quốc xác lập. Phàm là công dân Trung Quốc tròn 18 tuôi, đều có quyền bầu cử và được bầu cử làm đại biểu quốc hội. Ở Trung Quốc, đại biểu quốc hội cấp xã và huyện được nhân dân trực tiếp bầu ra, đại biểu quốc hội các cấp khác được nhân dân bầu cử gián tiếp, Quốc hội do đại biểu các tỉnh, khu tự trị và quân đội cau thành. Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 5 năm, mỗi năm tổ chức một cuộc họp đại biểu toàn thê.
Ba là, chế độ hợp tác đa đảng phái và hiệp thương chính trị Chế độ hợp tác đa đảng phái và Hiệp thương chính trị do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo là chế độ chính trị cơ bản của Trung Quốc. Trung Quốc là một nước có nhiều đảng phái. Ngoài Dang cộng sản Trung Quốc năm quyên ra, còn có 8 đảng phái dân chủ. Những đảng phái dân chủ này được thành lập trước khi Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập, ho ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng cộng san, đây là sự lựa chon lich sử trong quá trình hợp tác lâu dài va cùng 6 nhau phấn đấu với Đảng cộng sản Trung Quốc.
Đảng cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ lấy Hiến pháp làm chuẩn tắc hoạt động căn bản.